Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2022

Nhà thơ Thế Lữ gửi gắm gì trong tâm sự con hổ nhớ rừng?

(Kỷ niệm 90 năm Phong trào Thơ mới, 1932-2022)

 Nhà thơ Thế Lữ viết bài thơ ‘Nhớ rừng’ nói lên tâm sự một con hổ trong vườn bách thú vào năm 1935, mà đến nay vẫn khiến độc giả luận bàn. Điều đặc biệt là dù có thể quên 46 câu của tác phẩm này, thì người đời sau, cũng không thể quên một câu, ấy là “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?”. Câu thơ sẽ trở thành câu cửa miệng cho những ai rơi vào bi kịch hết thời…

Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989) nổi tiếng trong cả văn chương lẫn sân khấu. Thế nhưng, nhắc đến nhà thơ Thế Lữ là công chúng nghĩ ngay đến bài thơ “Nhớ rừng”. Nhà thơ Thế Lữ đã gửi gắm điều gì vào “lời con hổ ở vườn bách thú” mà bao nhiêu thập niên trôi qua, vẫn còn dư âm trong lòng nhiều thế hệ?

“Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thâm, lá gai, cỏ sắc

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi

Ta biết ta chúa tể muôn loài

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cay xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

– Than ôi! Thời oanh liệt này còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém

Dăm vầng lá hiền lành không bí hiểm

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Nơi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa

Nơi ta không còn được thấy bao giờ

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi

Hỡi cánh rừng ghê gớm của ta ơi”.

Nhớ rừng” chính là lời con hổ ở vườn bách thú của Thế Lữ. Chính vì có ý ấy, mà mở đầu “Nhớ rừng”, Thế Lữ mới dùng “Lời con hổ ở vườn bách thú” làm đề từ, làm lời dẫn cho bài thơ của mình.

Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989)

Đây là bài thơ hay vào bậc nhất của Thế Lữ và là bài mở đầu của một thời đại trong thi ca trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh- Hoài Chân. Và sau rất nhiều năm, năm 2005, Nhà xuất bản Giáo dục lại chọn “Nhớ rừng” vào Tuyển thơ Việt Nam thế kỷ 20.

Trong phần giới thiệu về Thế Lữ, Hoài Thanh viết: “Chính tên là Nguyễn Thứ Lễ. Sinh tháng 10 năm Đinh Mùi (1907). Nơi sinh Thế Lữ lấy làm lạ thấy người nói là Thái Hà Ấp Hà Nội, còn thi sĩ thì cứ tưởng là Lạng Sơn, nơi đã ở từ khi còn bé đến năm 11 tuổi. 11 tuổi xuống Hải Phòng. Học đến năm thứ ba ban thành chung thì bỏ để theo sở thích riêng. Sau đó lên Hà Nội học trường mỹ thuật, nhưng lại thôi ngay. Bắt đầu viết từ hồi này. Được ít lâu bị đau lại về Hải Phòng tĩnh dưỡng. Những ý thơ và đôi bài thơ đầu tiên, như bài Lựa tiếng đàn, nẩy ra trong lúc này. Có chân trong Tự lực văn đoàn và trong tòa soạn các báo: Phong hóa, Ngày nay, Tinh hoa. Đã xuất bản: Mấy vần thơ (1935, Đời nay, Hà Nội, 1941)”.

Cũng trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh – Hoài Chân đánh giá rất cao Thế Lữ: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời. Thế Lữ như vừng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công Thế Lữ đã dựng thành nền thơ mới ở xứ sở này…Bởi không có gì khiến người ta tin thơ mới hơn là đọc những bài thơ mới hay. Mà thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh…Thơ Thế Lữ là nơi hẹn hò của hai nguồn thi cảm. Thế Lữ đã băn khoăn trước hai nẻo đường: Nẻo về quá khứ với mơ mòng, nẻo tới tương lai và thực tế”.

Không ngần ngại, Hoài Thanh đã chọn 6 câu trong nhớ rừng: “Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già/ Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi/ Với khi thét khúc trường ca dữ dội/ Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng/ Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng/ Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc” để viết “không ai còn có quyền bĩu môi trước cuộc cách mệnh về thi ca đương nổi dậy.”

Nhiều năm sau, nhà thơ Vũ Quần Phương đã bình “Nhớ rừng” khá tâm đắc: “Bài thơ mượn lời một con hổ ở vườn bách thú. Đề tài đầy kịch tính. Cảnh ngộ là một thân hèn mọn, bất lực, hồn vía là một chúa sơn lâm. Ông chúa này đã hết thời đạp phá hưng dữ, đòi tự do. Ông đã thấm thía sự bất lực và ý thức được tình thế của mình, cam chịu cảnh gặm nhấm một khối căm hờn, nằm dài trông chờ ngày tháng qua, mặc cho thân thế bị tụt xuông ngang hàng với các loài hèn kém. Nhìn bề ngoài, người ta có thể nói: Con hổ này đã được thuần hóa: “Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi/ Với cặp báo chuồng bên vô tư lự”. Nhưng đấy chỉ là bề ngoài, còn thế giới bên trong của mãnh thú, tội nghiệp thay, vẫn ngùn ngụt lửa. Bút pháp lãng mạn của Thế Lữ có dịp tung hoành, có dịp chứng tỏ sức diễn đạt phong phú của thơ mới khi dựng lại khung cảnh kì vĩ trong mộng tưởng của chúa sơn lâm…”

Đấy là nghĩa đen, nghĩa hẹp. Còn về nghĩa bóng, nghĩa rộng…Nhớ rừng chính là bi kịch của những kẻ có sức mạnh, có chí lớn nhưng bị mất tự do, bị giam hãm trong một không gian nhỏ hẹp, không gian nô lệ. Đó cũng là bi kịch của nhiều người dưới thời Pháp thuộc. Nhưng dường như trong cái không gian nô lệ ấy, chúa sơn lâm vẫn không hoàn toàn chịu khuất phục, chính vì thế mà phần cuối của “Nhớ rừng” mới có mấy câu: “Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn/ Để hồn ta phảng phất được gần ngươi/ Hỡi cánh rừng ghê gớm của ta ơi”.

Điều đặc biệt là dù có thể quên 46 câu của tác phẩm này, thì người đời sau, cũng không thể quên một câu, ấy là “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?”. Câu thơ sẽ trở thành câu cửa miệng cho những ai rơi vào bi kịch hết thời. Câu thơ này cũng có giá trị tương tự như câu “Cơm áo không đùa với khách thơ” của Xuân Diệu, câu “Mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng” của Phạm Duy nếu áp dụng vào một tình huống cụ thể khác.

Và nếu trong văn xuôi, Nam Cao để lại trong văn học sử một Chí Phèo ăn vạ, Vũ Trọng Phụng để lại một Xuân tóc đỏ cơ hội, luôn biết xuất hiện đúng nơi, đúng lúc…thì Thế Lữ, Xuân Diệu, Phạm Duy, cũng đã làm được những điều tương tự trong thơ.

Nêu thế để thấy: Thơ để nhớ được một câu, một bài, lại mang giá trị lâu dài trong đời sống, không phải là việc đơn giản.

Đi cùng thời gian, tính đến mùa xuân Nhâm Dần 2022, ít nhất “Nhớ rừng” cũng đã có tuổi thọ gần 90 năm rồi.

ĐẶNG HUY GIANG / Văn Nghệ Sagon

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/11/04/nha-tho-the-lu-gui-gam-gi-trong-tam-su-con-ho-nho-rung/

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Bí mật khiến “Người đàn ông đứng khỏa thân” bị tác giả chối bỏ...

 

BỨC TRANH “NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỨNG KHỎA THÂN” TỪNG BỊ DANH HỌA LUCIAN FREUD CHỐI BỎ, ÔNG FREUD KHẲNG ĐỊNH ĐÂY KHÔNG PHẢI TRANH DO ÔNG THỰC HIỆN.
Bí mật khiến Người đàn ông đứng khỏa thân bị tác giả chối bỏ - 1
Bức tranh “Người đàn ông đứng khỏa thân” từng bị danh họa Lucian Freud chối bỏ, ông Freud khẳng định đây không phải tranh do ông thực hiện (Ảnh: The Guardian).

Nhưng giới chuyên gia lại tin rằng đây là tranh của Lucian Freud. Đằng sau đó còn có một câu chuyện dài…

Gần 25 năm trước, một nhà sưu tầm nghệ thuật người Thụy Sĩ đã mua một bức tranh được giới thiệu là do danh họa người Anh Lucian Freud thực hiện tại một cuộc đấu giá, tác phẩm khắc họa một người đàn ông khỏa thân trong tư thế đứng.

Sau đó, nhà sưu tầm người Thụy Sĩ nhận được cuộc gọi từ họa sĩ người Anh Lucian Freud đề nghị để ông Freud được mua lại bức tranh này.

Trước đó, nhà sưu tầm và họa sĩ không hề quen biết nhau, nhà sưu tầm từ chối lời đề nghị bởi ông cảm thấy thích bức tranh này. Câu chuyện về sau do nhà sưu tầm kể lại…

3 ngày sau, nhà sưu tầm lại nhận được thêm cuộc gọi từ họa sĩ Lucian Freud, lúc này với thái độ khá giận dữ, danh họa đe dọa rằng nếu nhà sưu tầm không bán lại tranh, ông sẽ lên tiếng phủ nhận rằng mình là người thực hiện bức tranh này, và như thế tác phẩm sẽ trở thành vô giá trị.

Cho tới hôm nay, nhà sưu tầm vẫn ẩn danh, câu chuyện về tác phẩm bị chối bỏ vẫn tiếp tục là một câu chuyện hy hữu, lạ lùng trong giới hội họa.

Nhà sưu tầm người Thụy Sĩ chia sẻ ẩn danh với tờ tin tức Observer (Anh) rằng: “Ông Lucian Freud đã nói rằng ông ấy sẽ trả cho tôi nhiều hơn số tiền tôi đã chi ra để mua tranh, thậm chí nhiều gấp đôi, nhưng tôi từ chối, ông ấy liền trở nên giận dữ và ngôn từ không còn lịch sự. Ông ấy đe dọa rằng vì tôi cứ ngoan cố như vậy, nên tôi sẽ không bao giờ có thể bán được bức tranh đó cho ai nữa”.

Bí mật khiến Người đàn ông đứng khỏa thân bị tác giả chối bỏ - 2
Danh họa người Anh – Lucian Freud (1922 – 2011) (Ảnh: The Guardian).

Trước sự thảng thốt của nhà sưu tầm, sau đó, quả thực phía danh họa đã lên tiếng phủ nhận việc Lucian Freud từng thực hiện bức “Người đàn ông đứng khỏa thân”.

Kể từ sau sự việc đó, bức tranh vẫn ở lại với nhà sưu tầm, sau nhiều năm nhờ các chuyên gia hội họa nghiên cứu tác phẩm, giờ đây, ông này có cơ hội lật ngược tình thế. Một số bên nghiên cứu độc lập có chuyên môn trong lĩnh vực hội họa hiện đã đưa ra kết luận rằng bức “Người đàn ông đứng khỏa thân” thực sự là tác phẩm của danh họa người Anh – Lucian Freud (1922 – 2011).

Không những thế, giới chuyên môn còn tin rằng đây có thể là một bức tranh tự họa của Freud.

Ông Freud đã qua đời hồi năm 2011, giới hội họa ngưỡng mộ ông với tư cách một bậc thầy trong khắc họa làn da và cơ thể khỏa thân.

Bí mật khiến Người đàn ông đứng khỏa thân bị tác giả chối bỏ - 3
Bức tranh khỏa thân “Benefits Supervisor Sleeping” khắc họa nàng thơ Sue Tilley của ông Lucian Freud đã được bán ra hồi năm 2008 với giá 17,2 triệu bảng (Ảnh: The Guardian). 

Cách khắc họa của Lucian Freud đặc trưng với sự chân thực và tạo xúc cảm dữ dội. Bức tranh khỏa thân “Benefits Supervisor Sleeping” khắc họa nàng thơ Sue Tilley của ông đã được bán ra hồi năm 2008 với giá 17,2 triệu bảng, khi ấy, mức giá trả cho tác phẩm đã xác lập kỷ lục về giá trả cho tác phẩm của một họa sĩ còn đang sống.

Nguyên nhân khiến “Người đàn ông đứng khỏa thân” bị chối bỏ

Bức “Standing Male Nude” (Người đàn ông đứng khỏa thân) bị ông chối bỏ là một bức tranh sơn dầu chưa thực sự hoàn tất, tác phẩm có kích thước 43 cm x 65 cm. Nhà sưu tầm ẩn danh sống tại Geneva, Thụy Sĩ, từng mua tác phẩm này tại một cuộc đấu giá hồi năm 1997.

Bức tranh khi ấy được giới thiệu là tác phẩm của Lucian Freud. Nhưng khi họa sĩ lên tiếng chối bỏ tác phẩm, sau đó, các nhà đấu giá sẽ không thể bán bức tranh này được nữa.

Sau quá trình nghiên cứu, chuyên gia hội họa người Thụy Sĩ – ông Thierry Navarro tin rằng việc danh họa Lucian Freud mong muốn mua lại bức tranh là bởi ông cảm thấy ngượng ngùng, bởi nhân vật nam giới xuất hiện trong tranh chính là ông Freud.

Theo điều tra của ông Navarro, bức họa này từng được treo trong căn hộ tại Geneva của danh họa Francis Bacon, một người bạn trong giới hội họa của ông Lucian Freud.

Lý giải về việc tại sao Bacon về sau không còn gìn giữ bức tranh này, ông Navarro cho rằng có thể mối quan hệ giữa Bacon và Freud về sau không còn thân mật, vì vậy, Bacon không còn tha thiết với bức họa này nữa.

Tiến sĩ Nicholas Eastaught, một chuyên gia người Anh trong việc phân tích các tác phẩm nghệ thuật cũng đưa ra kết luận tương tự: “Chúng tôi tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy đây là tác phẩm của Freud và không tìm thấy bằng chứng nào để phủ nhận điều đó”.

Chuyên gia lịch sử nghệ thuật Hector Obalk cũng đã nghiên cứu về bức tranh bị chối bỏ và nhận thấy rằng cách khắc họa làn da trong bức “Người đàn ông đứng khỏa thân” chính là phong cách đặc trưng của Feud.

Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi tiến sĩ Carina Popovici, một nhà khoa học kiêm người đồng sáng lập ra tổ chức Art Recognition (một công ty có trụ sở tại Zurich, Thụy Sĩ, chuyên phân tích các tác phẩm nghệ thuật bằng phương pháp khoa học), cũng tin rằng đây là tác phẩm của Freud.

Hồi năm 2016, một bức tranh khác cũng từng bị Lucian Freud chối bỏ, nhưng tác phẩm cũng đã được giới chuyên gia hội họa tại Anh đánh giá đây đích thực là tác phẩm của Freud.

Lý do khiến ông Freud chối bỏ tác phẩm này là bởi tác phẩm từng thuộc quyền sở hữu của họa sĩ Denis Wirth-Miller, một họa sĩ mà Freud vốn có mối bất hòa lâu năm.

Bích Ngọc / Theo The Guardian

Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2021/11/29/bi-mat-khien-nguoi-dan-ong-dung-khoa-than-bi-tac-gia-choi-bo/


Thứ Ba, 27 tháng 9, 2022

Những câu chuyện về những thiên tài vĩ đại nhất thế giới...

Những thần đồng, thiên tài nổi tiếng luôn có những giai thoại vô cùng hấp dẫn về tuổi thơ của mình.
1. Wolfgang Amadeus Mozart

Mozart chơi đàn từ khi 3 tuổi.
Mozart chơi đàn từ khi 3 tuổi.

Mozart là đại thiên tài âm nhạc người Áo. Ông chơi đàn từ khi 3 tuổi. 5 tuổi, ông sáng tác bản nhạc đầu tiên. Mozart và chị gái Maria Anna - cũng là 1 thần đồng âm nhạc, đã có chuyến lưu diễn biểu diễn trong các cung điện hoàng gia và các buổi hòa nhạc vòng quanh châu Âu. Từ Bavaria đến Paris, khán giả đã phải ngạc nhiên trước tài năng thiên bẩm của cậu bé thiên tài có khả năng bịt mắt chơi đàn hoặc song tấu bằng 1 tay.

Mozart qua đời ở tuổi 35 khi đã để lại hơn 600 tác phẩm kinh điển. Ông trở thành 1 trong những thiên tài âm nhạc nổi tiếng nhất thế giới mọi thời đại.

2. Enrico Fermi

Enrico Fermi là 1 thiên tài toán học và vật lý.
Enrico Fermi là 1 thiên tài toán học và vật lý.

Enrico Fermi là 1 thiên tài toán học và vật lý. Năm 10 tuổi, ông đã dành hầu hết thời gian của mình để nghiên cứu về hình học và động cơ điện. Năm 1915, anh trai của ông đột ngột qua đời. Enrico Fermi khi đó 13 tuổi đã dồn nén sự đau buồn bằng việc vùi mình vào những cuốn sách nghiên cứu về các công trình lượng giác, vật lý và cơ học lý thuyết. Công trình phóng xạ của ông đã giành được giải Nobel vật lý giúp mở ra kỷ nguyên hạt nhân mới của nhân loại.

3. Sor Juana Inés de la Cruz

Sor Juana Inés de la Cruz biết đọc sách khi mới biết đi.
Sor Juana Inés de la Cruz biết đọc sách khi mới biết đi.

Sor Juana Inés de la Cruz sinh ra ở Mexico năm 1651, bà biết đọc sách khi mới biết đi và có thể đọc hết tất cả các cuốn sách trong thư viện của ông nội. Mặc dù định kiến xã hội khi đó không cho phụ nữ theo học chương trình giáo dục chính thức, bà bắt đầu làm thơ năm 8 tuổi và tự học tiếng Latin.

Sau đó, bà tiếp tục tự học tiếng Hy Lạp và ngôn ngữ Aztec. Năm 17 tuổi, Sor Juana Inés de la Cruz đã tham dự 1 cuộc kiểm tra kiến thức chuyên sâu về triết học, toán học và lịch sử do 40 giáo sư đại học chủ trì. Tầm hiểu biết sâu rộng của bà đã khiến những chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực cảm thấy nể phục.

4. Pablo Picasso

Pablo Picasso

Trong sự nghiệp nghệ thuật của mình, Pablo Picasso đã để lại hơn 22.000 tác phẩm để đời.

Tài năng hội họa thiên phú của ông được bộc lộ khá sớm. Mẹ ông từng kể lại rằng, yêu cầu đầu tiên khi Picassso biết nói là muốn có 1 chiếc bút chì. 9 tuổi, ông vẽ tác phẩm sơn dầu đầu tiên. 14 tuổi, ông bắt đầu gia nhập trường nghệ thuật Barcelona nổi tiếng. Năm 15 tuổi, bức vẽ “The First Communion” đã tạo tiếng vang lớn trong giới hội họa khi đó. Trong sự nghiệp nghệ thuật của mình, Pablo Picasso đã để lại hơn 22.000 tác phẩm để đời.

5. Blaise Pascal

19 tuổi, Pascal đã thiết kế và chế tạo ra chiếc máy tính cơ học đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
19 tuổi, Pascal đã thiết kế và chế tạo ra chiếc máy tính cơ học đầu tiên trong lịch sử nhân loại.

Sinh năm 1623 tại Pháp, Blaise Pascal được cha mình dạy dỗ, bồi dưỡng tài năng thiên phú tại nhà. Hồi nhỏ Pascal rất ham mê hình học nhưng vì thể lực quá yếu nên cha ông đã giấu hết sách vở và những gì liên quan đến toán. Pascal phải tự mày mò xây dựng nên môn hình học cho riêng mình. Ông vẽ các hình và tự đặt tên cho chúng. 16 tuổi, Pascal công bố một công trình toán học : Về thiết diện của đường cônic, trong đó ông đã chứng minh một định lí nổi tiếng (sau này mang tên ông) và gọi là Định lí về lục giác thần kì. 19 tuổi, ông thiết kế và chế tạo ra chiếc máy tính cơ học đầu tiên trong lịch sử nhân loại.

6. Clara Schumann

Clara Schumann
Clara Schumann hoàn toàn làm chủ nghệ thuật đánh đàn piano khi mới 7 tuổi.

Nhạc sĩ người Đức Clara Schumann không biết nói cho đến khi 4 tuổi, nhưng khi cô 7 tuổi, cô đã hoàn toàn làm chủ nghệ thuật đánh đàn piano. Năm 1831, Schumann bắt đầu tham gia chuyến lưu diễn đầu tiên và nhận được rất nhiều lời khen ngợi của các đại thiên tài âm nhạc như Chopin và Liszt cũng như thính giả yêu nhạc thời bấy giờ. Vào thời điểm cô qua đời vào năm 1896, Schumann đã trải qua 6 thập kỷ làm nhạc công chuyên nghiệp và đã chơi hơn 1300 buổi hòa nhạc lớn nhỏ.

7. Jean-Francois Champollion

Phiến đá Rosetta.
Phiến đá Rosetta.

Những bí mật của các chữ tượng hình Ai Cập cổ đại có thể không bao giờ được tiết lộ nếu không có những đóng góp của thần đồng ngôn ngữ Jean-Francois Champollion. Sinh ra ở Pháp vào năm 1790, ông đã thể hiện tài năng thiên phú về ngôn ngữ từ khi còn rất nhỏ và bắt đầu bằng tiếng Latin, Hy Lạp, Ả Rập, Do Thái, Syriac và tiếng Phạn. Champollion trình bày bài báo học thuật đầu tiên của mình ở tuổi 16, và đến 19 tuổi, ông đã giảng dạy lịch sử tại 1 trường học ở Grenoble. Vào đầu những năm 1820, ông đã chuyển sự chú ý của mình sang việc giải mã những bí ẩn của Rosetta Stone. Ông nhanh chóng trở thành người đầu tiên nhận ra rằng, các ký hiệu của các chữ tượng hình Ai Cập cổ đại đều có hình tượng và chữ cái - một bước đột phá đã chứng tỏ là chìa khóa để giải mã ngôn ngữ này.

Theo Dân Việt

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/09/26/nhung-cau-chuyen-ve-nhung-thien-tai-vi-dai-nhat-the-gioi/




Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2022

’52 câu chuyện’ của bậc thầy truyện ngắn Nga Anton Chekhov

 Cuốn sách cho phép độc giả tiếp cận thế giới văn học đa diện nhiều màu sắc của nhà văn Nga Chekhov, một trong những cây bút truyện ngắn có ảnh hưởng nhất mọi thời đại.

“Nạn dịch tả hoành hành khắp nơi, đâu đâu cũng cách ly, đâu đâu cũng là nỗi sợ hãi”, Anton Chekhov viết trong một lá thư vào năm 1890. Vị bác sĩ 30 tuổi, khi ấy đã nổi danh về tài văn chương, phải đối mặt với nỗi kinh hoàng của nạn dịch tả đang tàn phá khắp châu Âu và châu Á.

Chekhov được cử đến 25 ngôi làng ở địa phương để giúp đỡ, nhưng từ chối mọi khoản thù lao.

"Chẳng còn thời giờ đâu mà nghĩ đến văn học", trong những bức thư, ông than thở về chuỗi tháng ngày sống trong dịch bệnh cô đơn và buồn chán, song vẫn thừa nhận: "Nếu nhìn từ bên ngoài vào thì thật ra, trong đại dịch này có rất nhiều điều thú vị".

“Một con người lớn lao, thông minh, và biết quan tâm đến mọi sự”, Maxim Gorky yêu mến và ngưỡng mộ Anton Chekhov cả ở tài năng và ở nhân cách lớn. Đối với Lev Tolstoy, ông "thật cao đẹp và vĩ đại".

Ông khiến người ta liên tưởng đến "vị bác sĩ tốt" trong vở nhạc kịch cùng tên của Neil Simon hay hình tượng "bác sĩ Zhivago" trong tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Nga Boris Pasternak, Chekhov là hiện thân của sự khiêm nhường, nhẫn nại và tử tế, New York Times nhận định.

Ông bỏ tiền để xây thư viện, trường học, chữa chạy miễn phí cho hàng nghìn người nghèo. Ông đến Siberia để vận động cải cách nhà tù, trong khi vẫn hết lòng giúp đỡ gia đình - gồm cả hai người anh em trác táng và người cha vũ phu đã khiến họ trải qua những năm tháng tuổi thơ khốn khổ.

Chekhov xem sự bình thản và tự tại là “lẽ sống”, như có lần ông từng viết: "Chỉ có những người tự tại mới có thể nhìn mọi thứ một cách rõ ràng, người tự tại mới có thể làm việc một cách công bằng và chính trực".

"Cuộc sống như nó vốn có"

New York Times nhận định nghệ thuật vốn thường chẳng dễ dung hòa giữa sự vĩ đại của cái ta chung rộng lớn và cá tính của cái tôi riêng biệt, vậy mà văn học của Chekhov lại hòa quyện cả hai điều đó, tạo nên một hấp lực mạnh mẽ khó có thể lý giải.

Nhà văn mà bao thế hệ cảm phục vì trái tim nhân hậu lại đồng thời sở hữu một giọng văn lạnh lùng, thậm chí đôi lúc (có vẻ như) “tàn nhẫn”. Chekhov luôn muốn tách mình ra khỏi những gì ông nhìn thấy, như một người ở ngoài lề, để khách quan ghi lại tất cả - Một người có khả năng nhận ra “rất nhiều điều thú vị trong đại dịch” để khắc họa đủ loại tính cách hèn mọn, tầm thường của đời sống hàng ngày: kẻ lười biếng ăn không ngồi rồi, kẻ khoe khoang, những kẻ sắp chết và hoang tưởng

nha van Nga Anton Chekhov anh 1
Nhà văn người Nga Anton Chekhov (1860 - 1904). Ảnh: AF Archive.

Chekhov tâm niệm "điều khiến cho văn học trở thành nghệ thuật chính xác là sự mô tả cuộc sống như nó vốn có". Ông đã lột tả chân thật và sâu sắc cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp con người trong “buổi hoàng hôn” của nước Nga, thẳng thắn phơi bày tất cả sự khủng khiếp của xã hội cũ nhỏ nhen, trì trệ.

Văn học của ông khiến con người phải đối mặt với hiện thực để rồi đánh thức trong họ khát vọng về một sự thay đổi lớn lao cần phải có để thoát khỏi cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt.

Nhà cách tân lớn của truyện ngắn

Tuyển tập Fifty-Two Stories (52 câu chuyện) - tập hợp những truyện ngắn đặc sắc của Chekhov được dịch sang tiếng Anh bởi Richard Pevear và Larissa Volokhonsky vừa ra mắt hồi tháng 4 - đã cho thấy sự đa dạng đáng kinh ngạc trong phong cách nghệ thuật của bậc thầy truyện ngắn người Nga.

52 tác phẩm trải dài toàn bộ sự nghiệp văn học của Chekhov, phong phú từ đề tài đến cách thể hiện, cho phép độc giả tiếp cận một thế giới văn học đa diện nhiều màu sắc của Chekhov với đủ loại nhân vật, tính cách và thân phận đến từ mọi miền nước Nga. Trong số đó có cả những truyện từ thời kỳ đầu sáng tác của ông và một số tác phẩm chưa từng được dịch sang Anh ngữ như Reading (Đọc) hay An Educated Blockhead (Gã đần có học).

nha van Nga Anton Chekhov anh 2
Bìa cuốn sách Fifty-Two Stories (52 câu chuyện) của Anton Chekhov. Ảnh: New York Times.

Chekhov bắt đầu văn nghiệp khoảng năm 1880, với những truyện ngắn, tiểu phẩm hài đăng ở góc của những tờ báo nhỏ. Ông từng cộng tác thường xuyên với tạp chí “Oskolki” - cái tên có nghĩa "Những mảnh nhọn" - cũng là một mô tả xác đáng dành cho các sáng tác của Chekhov.

Một kiểu "truyện (như) không có chuyện" - thường lấy chất liệu từ đời sống sinh hoạt hàng ngày, giản dị, ngắn gọn và hài hước, nhưng cũng đầy gai góc và sâu cay. Tỉ như truyện Joy (Niềm vui) kể về chàng trai trẻ sung sướng tự hào khoe với bố mẹ mình được lên báo - về việc anh này suýt nữa thì mất mạng vì say xỉn.

Chekhov tự nhận xét rằng các truyện ngắn ở thời kỳ đầu của ông “dở tệ”. Dù vậy ở đó độc giả vẫn nhận ra dấu ấn đặc trưng của nhà văn Nga trong những cái kết đột ngột, cách ông tháo mở nút thắt đầy bất ngờ.

Ông thường phàn nàn chuyện các "tiểu phẩm hài" của mình bị cắt xén, khiến chúng trở nên ngớ ngẩn và tẻ nhạt. Điều tương tự đã không xảy ra với bản dịch của Pevear và Volokhonsky, hai dịch giả nổi tiếng từng dành giải thưởng dịch thuật với tác phẩm Anna Karenina và Chiến tranh và Hòa bình (Lev Tolstoy).

Các tác phẩm sau khi được chuyển ngữ bởi Pevear và Volokhonsky vẫn giữ trọn vẹn tinh thần của nguyên tác với sức lay động mạnh mẽ. Có lẽ là bởi vì sức hút của văn học Chekhov không nằm ở kỹ thuật diễn ngôn hay cốt truyện.

Ngôn ngữ của ông ngắn gọn, cốt truyện giản đơn thậm chí đôi khi là vay mượn. Nhưng chính lối diễn đạt cô đọng mà đầy sức chứa, sự phản ánh xác thực đời sống qua cái nhìn khách quan đầy cẩn trọng, chính cách mà Chekhov đặt các nhân vật của mình vào tình thế phải phá bỏ mọi “hàng rào phòng thủ" và buộc họ phải phơi trần bản chất, đã khiến cho các tác phẩm của ông có sức rung cảm mãnh liệt đối với độc giả bao thế hệ.

“Nhà văn làm ta muôn thuở say mê”, Gorky khẳng định “sức mạnh của tài năng Chekhov chính là ở chỗ ông không bao giờ bịa đặt ra một điều gì… Ông không nói thêm điều gì mới, nhưng điều ông nói được diễn đạt một cách giản dị, thật hùng hồn sáng rõ, giản dị đến mức đáng kinh ngạc, chân xác đến không thể nào phủ nhận được”.

“Ông ấy đã tạo ra một bút pháp mới, hoàn toàn mới cho cả thế giới mà tôi chưa gặp ở đâu”, Tolstoy nói về các tác phẩm của Chekhov. Với 25 năm sáng tạo nghệ thuật, ông đã có những đóng góp quan trọng cho tiến trình văn học Nga và văn học thế giới thế kỷ 20, với vai trò là nhà cách tân lớn trong lĩnh vực văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn và kịch.

Chekhov sớm phát hiện mình mắc bệnh lao phổi trong những năm thiếu thời, căn bệnh nan y đã cướp đi cuộc sống của ông ở tuổi 44, khi sức sáng tạo còn rất dồi dào. Ông để lại một di sản văn học đồ sộ, phong phú gồm khoảng 800 truyện: một bức tranh văn học lớn lao đã khắc họa sinh động mọi khía cạnh của cuộc sống xã hội Nga đương thời.

Ngụy An / Zing

Trouble clicking? Copy and paste this URL into your browser:
https://anle20.wordpress.com/2021/05/31/52-cau-chuyen-cua-bac-thay-truyen-ngan-nga-anton-chekhov-2/


Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

Cõi “chành ra ba góc, da còn thiếu” của Hồ Xuân Hương...

 Thân em như quả mít trên cây/ Da nó xù xì, múi nó dầy/ Quân tử có thương thì đóng cọc/ Xin đừng mân mó, nhựa ra tay...

Một cuộc triển lãm mỹ thuật có tên “Cõi Hồ Xuân Hương” được tổ chức tại Hà Nội những ngày cuối Tháng Bảy 2022, trong đó có một số bức bị Hội Mỹ thuật Việt Nam yêu cầu gỡ với lý do quá dung tục và bôi bác…

Đó là 25 tác phẩm của hai họa sĩ Nguyễn Quốc Thắng và Nguyễn Nghiêm Nhan, được trưng bày trong cuộc triển lãm dự kiến từ ngày 20 đến 29 Tháng Bảy 2022. Tuy nhiên chỉ ba ngày sau khi ra mắt và gặp phản ứng gay gắt, một số bức tranh bị Hội đồng nghệ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam gỡ khỏi triển lãm; và cuối cùng hai họa sĩ trên quyết định đóng triển lãm. Hai họa sĩ này đã mất hai năm chuẩn bị, dự định mang bộ tranh đi Nghệ An triển lãm nhân sự kiện 200 năm ngày mất Hồ Xuân Hương.

Trước khi cuộc triển lãm được khai mạc, ông Nguyễn Nghiêm Nhan nói với báo chí rằng ông muốn tạo hình một Hồ Xuân Hương bay bổng, một “Hồ Xuân Hương bay lượn trên sóng Tây Hồ” hay “Hồ Xuân Hương với bồng bềnh sen Tây Hồ” “đan xen giữa không gian thực và mơ”. Ông Nguyễn Nghiêm Nhan nói rằng, qua những bức tranh của mình về nữ sĩ Hồ Xuân Hương, ông muốn diễn tả cõi mơ của Hồ Xuân Hương, là nỗi lòng tự sự của nữ sĩ, là sự cô đơn rỗng lòng, là ôm ấp hoài niệm bốn mùa đi qua, là cá tính mạnh mẽ – vì 200 năm sau ngày bà Hồ Xuân Hương mất, cá tính ấy của bà vẫn còn “thấp thoáng đâu đây” với những nữ sĩ ngày nay… Trong khi đó, tranh của Nguyễn Quốc Thắng được giới thiệu là lấy cảm hứng từ thơ của Hồ Xuân Hương, “thể hiện hình ảnh nữ sĩ khao khát tình yêu”.

Một số bức tranh trong cuộc triển lãm “Cõi Hồ Xuân Hương” được cho là quá dung tục (ảnh: VietnamNet)

Với nhiều ý kiến đánh giá, hình ảnh bà Hồ Xuân Hương trong tranh của hai họa sĩ trên là quá dung tục. Một số bức nét vẽ như bôi màu, nguệch ngoạc không có giá trị thẩm mỹ. Ông Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, nói rằng thơ của Hồ Xuân Hương vừa tục vừa thanh, nhưng khi chuyển sang ngôn ngữ tạo hình của hội họa thì cần cẩn trọng. “Bùi Xuân Phái cũng vẽ Hồ Xuân Hương táo bạo những cách tạo hình của bậc thầy làm duyên thêm cho Hồ Xuân Hương, tạo nên cảm xúc rất thanh thoát” – ông Lương Xuân Đoàn nói.

Nhân vụ này, nhiều người đã tìm lại bộ ảnh của họa sĩ Bùi Xuân Phái ký họa Hồ Xuân Hương. Họa sĩ Bùi Thanh Phương, con trai ông Bùi Xuân Phái, nói: “Bộ tranh nude cuối đời của cha tôi cũng tương tự bộ tranh nude cuối đời của danh họa Picasso, đã gây bất ngờ cho giới hội họa. Điều quan trọng là chúng ta phải phân biệt được cái đẹp, cái hay của tranh nude nghệ thuật và loại tranh khỏa thân kiểu phàm tục. Nó cũng giống nhiều người thấy bất ngờ, choáng váng khi gặp trong một số đền đài Ấn Độ”. Bộ tranh Hồ Xuân Hương được danh họa Bùi Xuân Phái vẽ theo ý thơ của nữ sĩ, được thực hiện trong giai đoạn 1982-1986.

Hồ Xuân Hương (1772-1822) được mệnh danh “Bà chúa thơ Nôm”. Sáng tác của bà gắn liền phong cách đố tục giảng thanh, với những ẩn dụ cực kỳ táo bạo về tình dục. Cho đến nay, lai lịch của Bà chúa thơ Nôm vẫn chưa được rõ. Các tài liệu nghiên cứu cho biết, bà sống ở giai đoạn cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Bà được hậu thế biết đến qua quyển Giai nhân di mặc (佳人遺墨) của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến ấn hành tại Hà Nội năm 1916.

Giới nghiên cứu cho rằng bà Hồ Xuân Hương sinh năm 1772. Nhà nghiên cứu Hán Nôm nổi tiếng John Balaban cho rằng bà sinh tại phường Khán Xuân (nay thuộc khu vực Bách Thảo Viên Hà Nội). Theo Giai nhân di mặc, Hồ Xuân Hương là ái nữ của Sinh đồ Hồ Phi Diễn ở hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo ông Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh, cũng là người Quỳnh Đôi. Bà Hồ Xuân Hương được cho là mất vào năm 1872. Tháng Mười Một 2021, UNESCO công nhận Hồ Xuân Hương là danh nhân văn hóa thế giới.

Văn bản được nhận diện cổ nhất có chép thơ Hồ Xuân Hương là Quốc văn tùng ký (國文話記) do Hải Châu Tử Nguyễn Văn San (1808-1883) soạn năm Minh Mệnh thứ 14 (1834). Hầu hết di cảo của Hồ Xuân Hương được gom trong cuốn Xuân Hương thi tập (春香詩集) do nhà Phúc Văn Đường tàng bản ấn hành tại Hà Nội năm 1930.

Một số ký họa Hồ Xuân Hương của Bùi Xuân Phái (kienthuc)

Cuộc đời tình ái của bà Hồ Xuân Hương được thuật lại với vô số giai thoại hư hư thực thực. Theo Giai nhân di mặc, khi còn trẻ, bà bị ép gả làm lẽ cho một hào phú có biệt hiệu là Tổng Cóc. Sách viết: “Tổng Cóc (vốn là cường hào) đã dốt nát lại có tính ăn chơi bạt mạng, sau mỗi lần đánh bạc thua nhẵn túi, gia sản khánh kiệt đã tiếc của mà chết. Xuân Hương bèn làm bài thơ nổi tiếng Khóc Tổng Cóc với lời lẽ trào phúng”.

Tuy được chồng chiều chuộng nhưng Hồ Xuân Hương mâu thuẫn với vợ cả cũng như với gia đình Tổng Cóc nên sau đó bà bỏ ra đi và sau này trở thành vợ lẽ của quan tri phủ Vĩnh Tường – ông Phạm Viết Ngạn. Các giai thoại mờ mờ ảo ảo còn cho rằng bà quen biết nhiều văn nhân tài tử và cặp kè với những nhân vật nổi tiếng cùng thời chẳng hạn Nguyễn Hầu, Trần Hầu, Trần Quang Tĩnh, Tốn Phong, Thạch Đình, Cự Đình… và thậm chí cả Nguyễn Du.

Thơ của bà rất… “sốc” – nói theo ngôn ngữ ngày nay. Ví dụ, vịnh cái quạt, bà viết: “chành ra ba góc, da còn thiếu/ khép lại đôi bên, thịt vẫn thừa”;

Khi tả cái đèo, bà viết: “Cửa son đỏ loét tùm hum nóc/ Hòn đá xanh rì lún phún rêu”, “Hiền nhân quân tử ai là chẳng/ Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo” (Đèo Ba Dội).

Trong bài Quả mít, bà miêu tả: “Thân em như quả mít trên cây/ Da nó xù xì, múi nó dầy/ Quân tử có thương thì đóng cọc/ Xin đừng mân mó, nhựa ra tay”.

Trong bài Thiếu nữ ngủ ngày, bà viết: “Mùa hè hây hẩy gió nồm đông/ Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng/ Lược trúc biếng cài trên mái tóc/ Yếm đào trễ xuống dưới nương long/ Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm/ Một lạch đào nguyên nước chửa thông/ Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt/ Đi thì cũng dở, ở không xong”.

Mỹ Anh / Saigon Nhỏ

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/07/26/coi-chanh-ra-ba-goc-da-con-thieu-cua-ho-xuan-huong/