Hiển thị các bài đăng có nhãn Tham khảo.. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tham khảo.. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2023

Kênh đào “Đế chế Phù Nam” hay tiếng chuông báo tử cho đồng bằng sông Cửu Long...

 

Một góc đồng bằng sông Cửu Long (ảnh: baochinhphu.vn

Thông tin về dự án có tên “Kênh đào Đế Chế Phù Nam” do Campuchia cùng với các nhà thầu Trung Quốc chuẩn bị tiến hành, chính thức thông báo lên Ủy hội sông Mekong 8 Tháng Tám 2023 vừa qua, cùng với bài phỏng vấn do đài RFA thực hiện với tiến sĩ Brian Eyler, một chuyên gia về Tiểu vùng sông Mekong ở Stimson Center.

Những tiếng cảnh báo lọt vào những lỗ tai điếc

Sự việc đang khiến cộng đồng, đặc biệt giới trí thức và các nhà bảo vệ môi trường quan tâm. Lời nhận xét có phần bi quan của Brian Eyler coi dự án này như “chiếc đinh cuối cùng đóng vào quan tài” không phải là phóng đại. Tiến sĩ Brian Eyler còn là tác giả của cuốn sách “Những ngày cuối cùng của dòng sông Mekong hùng vĩ” xuất bản năm 2020. Tác phẩm về môi trường, sinh thái, văn hóa, xã hội… có thể coi như một khúc bi ca tiếc thương sự kết thúc của dòng sông vĩ đại, Mekong, đang tới gần. Tham vọng của con người và những tác động thô bạo vào thiên nhiên đã và đang bức tử con sông từ ngàn đời nay đem lại nguồn sống cho hàng chục triệu người.

Hai mươi năm trước khi Brian Eyler viết “Những ngày cuối cùng của dòng sông Mekong hùng vĩ”, ông Ngô Thế Vinh đã xuất bản hai bộ sách đồ sộ bao hàm nhiều nội dung về môi sinh, lịch sử, xã hội, địa chính trị văn hóa liên quan tới các cộng đồng dân cư dưới hạ lưu dòng Mekong, cũng như dự đoán chính xác về tác động hủy hoại của hệ thống 14 con đập bậc thềm khổng lồ ở Vân Nam và 11 con đập dòng chính hạ lưu.

Bộ sách đầu tiên là “Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng” do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành năm 2000 đã gây một tiếng vang trong cả giới học thuật lẫn chính trị, năm 2001 được tái bản lần thứ nhất và tuyệt bản. Không hiểu vì lý do gì, bộ sách đồ sộ và giá trị này đã không được cấp phép tái bản ở trong nước? Cuốn sách thứ hai là “Mekong dòng sông nghẽn mạch” xuất bản năm 2007 là những phóng sự và điều tra sống động tiếp nối.

Có thể nói, những tác phẩm của Brian Eyler hay của ông Ngô Thế Vinh là những lời cảnh tỉnh, dự báo có tầm nhìn xuyên thế kỷ với những nghiên cứu chuyên sâu, phóng sự đa dạng, đa chiều liên quan đến hệ sinh thái của dòng Mekong. Kể từ “Cửu Long cạn dòng” được xuất bản năm 2000 cho đến nay, đã có thêm nhiều các dự án thủy điện và kênh đào khác được hoàn thành trên thượng nguồn và lưu vực con sông, ngày một đẩy nhanh hơn tiến trình hủy diệt môi sinh, tác động tiêu cực tới đời sống, sinh kế của các cộng đồng bản địa dọc hai bên con sông hùng vĩ và hào phóng này.

Dự án “kênh đào đế chế Phù Nam” của Campuchia không phải là con kênh đào đầu tiên lấy nước từ dòng Mekong để phục vụ cho các mục đích kinh tế của quốc gia mà con sông đi qua. Trước đó ba thập niên, dự án kênh đào Kong Chi Mun với tổng phí tổn lên tới US$4 tỷ từ năm 1992 đã lấy đi 300m3/s trong tổng số lưu lượng 1600 m3/s vào mùa khô của ĐBSCL hiện nay. Tiếp đó, một dự án khác có tên KOK ING NAN, gián tiếp lấy nước từ hai phụ lưu lớn của sông Mekong là sông Kok và sông Ing ở vùng Chiang Rai thuộc Bắc Thái Lan, có giá trị dự án $1.5 tỷ, được JICA (Japan International Cooperation Agency) hỗ trợ cấp vốn nghiên cứu thiết kế.

Đó là đường hầm khổng lồ dài hơn 100km để chuyển 2.2 triệu m3 nước mỗi năm từ sông Mekong vào con sông Nan – một phụ lưu của sông Chao Phraya nhằm cấp nước tưới cho vùng châu thổ quan trọng nhất của Thái Lan đang khô hạn. Tuy nhiên, cả hai dự án này không thể gây ra tác động lớn như kênh đào Đế chế Phù Nam. Theo tính toán, con kênh đào này cần đến 7.7 triệu m3 nước để lấp đầy. Như vậy, một khối lượng nước rất lớn sẽ bị lấy đi trước khi dòng Mekong chảy vào lưu vực thuộc địa phận Việt Nam.

Miền Nam Việt Nam sẽ chết!

Trong những năm gần đây, các báo cáo về khí tượng thủy văn đã minh chứng thực tế là đồng bằng sông Cửu Long đã và đang “đói lũ” trầm trọng. Việc lũ không còn về theo tự nhiên, mức lũ thấp hơn nhiều so với dự báo và gần như không còn phù sa bồi đắp cho vùng châu thổ đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp, lượng thủy sản tự nhiên suy giảm rõ rệt. Không có lũ về, nước mặn xâm nhập vào đất liền sâu hơn, dữ dội hơn. Còn về lâu dài, vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ chìm nhanh hơn khi không có phù sa bồi đắp cùng với nạn khai thác cát bừa bãi.

Ngày 30 Tháng Chín 2023, tờ Thanh Niên dẫn trích một đánh giá của ông Sepehr Eslami, trưởng nhóm tư vấn liên doanh Deltares (Hà Lan) trong bài phóng sự “ĐBSCL trước nguy cơ hết cát”, cho thấy thực trạng đáng sợ khi mà giai đoạn 2017-2022, mỗi năm hoạt động khai thác cát ở ĐBSCL đã lấy đi 35-55 triệu m3.

Trong khi đó, lượng cát do phù sa bồi đắp từ sông Mekong chỉ còn 2-4 triệu tấn/năm. Bên cạnh đó là lượng cát rời khỏi đồng bằng đổ ra Biển Đông khoảng 0.6 triệu tấn/năm. Có một mâu thuẫn không thể có giải pháp khi nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục qui hoạch phát triển các đô thị lớn như Sài Gòn theo hướng Đông và Đông Nam, hướng ra biển và lấy toàn bộ cát nạo vét từ các dòng sông để tôn nền cho các khu đô thị mới, dẫn đến tình trạng ngập úng trong đô thị khi triều dâng và mưa lớn, cũng như khiến toàn bộ các khu đô thị này có nguy cơ chìm nhanh hơn mọi dự báo bởi tình trạng xói lở nghiêm trọng.

Cuối Tháng Chín 2023, các bức không ảnh cho thấy rõ đập thủy điện Tiểu Loan đã tích đầy nước với tổng lượng khoảng 14.3 tỉ m3. Trong khi dòng chảy tại trạm Chiang Saen ở Thái Lan ngay phía dưới các con đập đang thiếu hụt đến 65%. Mực nước sông từ Viêng Chăn ở Lào đến ĐBSCL gần như đang ở mức thấp kỷ lục.

Mức độ ngập lũ của vùng đồng bằng Mekong hiện chỉ bằng một nửa so với bình thường. Như vậy, lượng nước của sông Mekong chảy vào vùng châu thổ ĐBSCL không chỉ bị các đập thủy điện giữ lại mà còn tiếp tục bị trực tiếp lấy đi bởi các con kênh đào như Kong Chi Mun, KOK ING NAN hay “đế chế Phù Nam” tới đây. Điều này sẽ sớm dẫn đến một thảm họa về sinh thái khi Việt Nam là quốc gia yếu thế nhất vì ở vị trí cuối cùng ở hạ nguồn của dòng sông.

Không chỉ có vậy, ngoài những tác động về môi sinh, môi trường và kinh tế xã hội mà dự án này gây ra thì có những rủi ro kinh tế, địa chính trị khác tất nhiên Trung Quốc và Campuchia sẽ không bao giờ đề cập đến, ẩn sau mục đích chính của con kênh đào “Đế chế Phù Nam”.

Việc hoàn thành kênh đào “Đế chế Phù Nam” là mảnh ghép cuối cùng trong việc hoàn tất tuyến đường nội thủy cho phép các đoàn tàu chở dầu loại 500-700 tấn có thể đi từ biển Campuchia, ngược dòng Mekong lên đến Vân Nam thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào tuyến đường biển qua eo Malacca như hiện nay.

Âm mưu thâm hiểm của Trung Quốc

Đây là một kế hoạch lâu dài của Bắc Kinh. Dự án “Cải thiện thủy lộ thượng nguồn sông Mekong” được ký kết giữa bốn nước tham gia là Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Lào vào Tháng Tư 2001 cho phép các đoàn tàu trọng tải 500-700 tấn chở đầy hàng hóa thặng dư của Trung Quốc dễ dàng di chuyển từ giang cảng Tư Mao (Simao), Vân Nam xuống tới Chiang Khong, Chiang Sean của Thái Lan và xa hơn nữa tới Luang Prabang và thủ đô Vạn Tượng, trên đường về sẽ chở theo khoáng sản và nguyên liệu đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp trong nước.

Ngày 29 Tháng Mười Hai 2006, tờ Tân Hoa Xã có bài về việc hai con tàu chở 300 tấn dầu từ một giang cảng Chiang Rai ở Bắc Thái Lan ngược dòng Mekong đã tới một giang cảng phía Tây Nam tỉnh Vân Nam (các đập thủy điện của Trung Quốc xây dựng đều có hệ thống đập dâng cho phép tàu thuyền ngược dòng đi qua). Chuyến đi lịch sử này đánh dấu quyết tâm của Bắc Kinh đi tìm con đường thứ hai để chuyển dầu từ Trung Đông vào Trung Quốc.

Trung Quốc đã có những thỏa thuận với Miến Điện, Thái Lan, Lào về việc vận chuyển một lượng dầu hạn chế khoảng 1,200 tấn/tháng từ năm 2006. Đến nay, với “kênh đào đế chế Phù Nam” đi qua trên đất Campuchia sẽ hoàn tất tuyến thủy lộ chiến lược này. Tuy vậy, các cộng đồng dân cư và truyền thông chính thống thì không được hay biết gì.

Nếu thế kỷ 20 mọi cuộc chiến đều liên quan đến dầu mỏ thì thế kỷ 21 cuộc chiến đều vì nguồn nước. Mekong, con sông vĩ đại bởi sự hào phóng của nó, là cái nôi nuôi dưỡng sự sống cho bao nhiêu dân tộc sống ở dưới nguồn từ hàng ngàn năm qua, giờ đây đã kiệt quệ và nhiễm độc.

Với hệ thống 14 đập thủy điện bậc thềm khổng lồ, Trung Quốc có khả năng kiểm soát 55% nguồn nước của Mekong và giữ lại 70% lượng phù sa. Thủy điện đã đem lại sự thay đổi chóng mặt, điện khí hóa đem lại sự thịnh vượng cho Vân Nam, nơi có trữ lượng khoáng sản phong phú lớn nhất thế giới. Thế nhưng cái giá nghiệt ngã phải trả từ việc phá hủy nghiêm trọng môi sinh, môi trường thì các quốc gia dưới nguồn lãnh đủ. Từ việc cạn kiệt nguồn nước tưới vào mùa khô, không còn tôm cá, cho đến dòng Mekong trở thành rãnh nước thải của hàng ngàn nhà máy trên cao nguyên đổ xuống hạ nguồn.

Việc “đế chế Phù Nam” hoàn thành trong tương lai không xa sẽ thay đổi đáng kể địa chính trị khu vực khi mà con sông Mekong trở thành tuyến nội thủy của Trung Quốc, do Bắc Kinh hoàn toàn kiểm soát. Việt Nam, quốc gia yếu thế nhất, đương nhiên cũng dễ bị tổn thương nhất. Ngoài việc bị ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt môi sinh, môi trường, nguồn lợi thì những lợi ích kinh tế trước mắt từ việc thông thương với Campuchia qua tuyến thủy lộ truyền thống sẽ mất đi. Cửu Long sẽ thực sự cạn dòng khi không còn lũ, và thậm chí nước ngọt không đủ cho nhu cầu tưới tiêu tối thiểu.

Trong lịch sử cổ đại, chẳng phải người Hán đã từng chặn dòng Thác Lý Mộc trong cuộc bao vây Lâu Lan – một trong những quốc gia cổ đại thịnh vượng trên Con Đường Tơ Lụa, hình thành vào khoảng thế kỷ 2 TCN – khiến cho toàn bộ quốc gia này diệt vong hay sao?

Với những hậu quả đã hiện rõ trước mắt nếu như giới chức Việt Nam vẫn tiếp tục thái độ bàng quang, duy trì các chính sách nông nghiệp, thủy lợi duy ý chí và lạc hậu, không cho người nông dân quyền tự quyết về việc “nuôi con gì, trồng cây gì” như hiện tại thì ngay khi “Đế chế Phù Nam” hoàn thành, người ta sẽ tận mắt chứng kiến sự tàn lụi của một vùng châu thổ giàu có ĐBSCL chỉ trong vài năm tới. ĐBSCL đang gánh vác trách nhiệm an ninh lương thực, đảm bảo diện tích trồng lúa lớn. Người dân không có quyền trên thửa ruộng của họ và ngay cả việc bán sản phẩm lúa gạo cũng phải thông qua các công ty lương thực nhà nước hoặc các chủ vựa là người nhà của giới chức chính quyền.

Tùng Phong / Saigon Nhỏ

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2023/10/10/kenh-dao-de-che-phu-nam-hay-tieng-chuong-bao-tu-cho-dong-bang-song-cuu-long/

Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2023

Uống cà phê ảnh hưởng đến não thế nào?...

 

Ảnh: Shutterstock

Cà phê đã được chứng minh có nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhưng với não, nó có thực sự tốt?

Cà phê là một trong những loại đồ uống phổ biến nhất thế giới. Nhờ có chứa lượng caffeine cao, cà phê là lựa chọn không thể thiếu vào mỗi buổi sáng đối với nhiều người để xua tan cảm giác buồn ngủ và giúp cơ thể tỉnh táo hơn.

Nhiều nghiên cứu cũng đã xem xét tác động của cà phê đối với sức khỏe con người, cả về trước mắt và lâu dài. Kết quả cho thấy tiêu thụ một lượng cà phê vừa phải mang lại nhiều lợi ích sức khỏe, trong đó có việc giảm nguy cơ tử vong sớm và bệnh gan.

Các nhà nghiên cứu cũng xem xét tác động của cà phê tới não và nhận thấy cà phê có nhiều tác động tích cực đối với sức khỏe não bộ.

Những hoạt chất có trong cà phê

Uống cà phê ảnh hưởng đến não thế nào? - Ảnh 1.

Ảnh: Shutterstock

Cà phê chứa hàng trăm hợp chất có hoạt tính sinh học và mang lại lợi ích cho sức khỏe. Nhiều hợp chất trong số này là chất chống oxy hóa giúp chống lại tác hại của các gốc tự do gây ra trong tế bào.

Những hoạt chất quan trọng nhất của cà phê là:

Caffeine: Là hoạt chất chính trong cà phê có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương.

Axit Chlorogenic: Là chất chống oxy hóa có lợi cho quá trình chuyển hóa, ví dụ chuyển hóa đường.

Cafestol và kahweol: Có trong dầu tự nhiên của cà phê.

Trigonelline: Hợp chất alkaloid này không ổn định ở nhiệt độ cao. Trong quá trình rang hạt cà phê, hợp chất này tạo thành axit nicotinic, còn được gọi là niacin (vitamin B3).

CÀ PHÊ TÁC ĐỘNG TỚI NÃO NHƯ THẾ NÀO?

Uống cà phê ảnh hưởng đến não thế nào? - Ảnh 2.

Ảnh: Harvard Health

Caffeine tác động tới hệ thần kinh trung ương theo nhiều cách. Caffeine có thể tương tác với thụ thể adenosine - một chất dẫn truyền thần kinh trong não giúp thúc đẩy giấc ngủ. Tế bào thần kinh trong não có các thụ thể mà adenosine có thể gắn vào. Sự liên kết này ức chế sự kích hoạt tế bào thần kinh, từ đó làm chậm hoạt động thần kinh. Adenosine thường tích tụ vào ban ngày và khiến cơ thể cảm thấy buồn ngủ khi tới giờ đi ngủ.

Caffeine và adenosine có cấu trúc phân tử tương tự nhau. Do đó, caffeine sẽ cạnh tranh với adenosine để liên kết với các thụ thể. Tuy nhiên, caffeine không làm chậm quá trình kích hoạt tế bào thần kinh như adenosine mà thay vào đó, nó có thể ngăn adenosine làm chậm hoạt động thần kinh. Cuối cùng, caffeine thúc đẩy kích thích thần kinh trung ương và khiến cơ thể cảm thấy tỉnh táo hơn.

VÌ SAO CÀ PHÊ CÓ THỂ TĂNG CƯỜNG CHỨC NĂNG NÃO BỘ?

Caffeine làm gia tăng entropy của não khi nghỉ ngơi. Entropy não rất quan trọng đối với chức năng của não. Entropy não càng cao thì khả năng xử lý thông tin cũng sẽ cao hơn.

Caffeine cũng kích thích hệ thần kinh trung ương bằng cách thúc đẩy giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh khác, bao gồm noradrenaline, dopamine và serotonin.

Caffeine cũng có thể cải thiện tâm trạng, sự tập trung,...

CÀ PHÊ VÀ TRÍ NHỚ

Uống cà phê ảnh hưởng đến não thế nào? - Ảnh 3.

Ảnh: Health

Caffeine cũng có thể ảnh hưởng đến trí nhớ, tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu khoa học vẫn chưa có sự thống nhất và cần có thêm nhiều nghiên cứu khác.

Một số nghiên cứu cho thấy rằng caffeine có thể có tác động tích cực đến cả trí nhớ ngắn hạn và dài hạn. Các nghiên cứu khác lại cho rằng caffeine làm suy giảm trí nhớ.

Trong một nghiên cứu, khi những người tham gia uống một viên caffeine sau khi xem một loạt hình ảnh, khả năng nhận dạng hình ảnh của họ trong 24 giờ sau đó tốt hơn so với nhóm dùng giả dược.

CÀ PHÊ GIÚP GIẢM NGUY CƠ MẮC BỆNH ALZHEIMER

Bệnh Alzheimer là nguyên nhân phổ biến nhất của chứng sa sút trí tuệ trên toàn thế giới. Bệnh Alzheimer gây mất trí nhớ, các vấn đề về suy nghĩ và hành vi.

Cho tới nay, vẫn chưa có cách điều trị đối với căn bệnh này, tuy nhiên các yếu tố liên quan đến chế độ ăn uống có thể ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer cũng như các dạng sa sút trí tuệ khác.

Các nghiên cứu quan sát đã xem xét mối liên hệ giữa việc uống cà phê thường xuyên với nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Kết quả cho thấy những người có thói quen uống cà phê ở mức độ vừa phải mỗi ngày có thể giảm tới 65% nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.

CÀ PHÊ GIÚP GIẢM NGUY CƠ MẮC BỆNH PARKINSON

Uống cà phê ảnh hưởng đến não thế nào? - Ảnh 4.

Ảnh: Adobe Stock

Bệnh Parkinson là một chứng rối loạn mạn tính của hệ thần kinh trung ương, ảnh hưởng đến vận động và thường kèm theo run.

Parkinson không có cách điều trị, do đó việc phòng ngừa bệnh là vô cùng quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy cà phê có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson.

Một nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Geriatrics & Gerontology International vào năm 2013 cho thấy những người uống 3 tách cà phê mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh Parkinson thấp hơn 29%, trong khi đó những người uống 5 cốc lại không có được nhiều lợi ích đến vậy.

UỐNG BAO NHIÊU CÀ PHÊ SẼ CÓ ĐƯỢC LỢI ÍCH?

Uống nhiều cà phê hơn không có nghĩa là sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn. Theo khuyến cáo của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), người trưởng thành khỏe mạnh chỉ nên tiêu thụ khoảng 4 hoặc 5 cốc cà phê (400mg caffeine) mỗi ngày để tránh các tác dụng phụ nguy hiểm.

Nếu bạn đang có kế hoạch mang thai hoặc đang mang thai, đang cho con bú, thuộc nhóm nhạy cảm với caffeine, đang dùng thuốc hoặc đang mắc các bệnh nền, hãy nói chuyện với bác sĩ để được tư vấn về lượng caffeine phù hợp với mình.

Lam Chi /(Nguồn: Healthline) / Trí thức Trẻ

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2023

Làm người Cộng sản Việt Nam có dễ không?...

VIETNAM-POLITICS-ECONOMY-CONGRESS

Tuần trước, ngày 2/2, nhân dịp được nhận huân chương 55 tuổi đảng, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, trong diễn từ gởi gắm cán bộ, đã tuyên bố rằng, “Nếu là người hãy là người Cộng sản.”

Đây có thể là một lời kêu gọi mang mệnh lệnh đạo đức chính trị cao cả, nhưng nó cũng gây không ít ngạc nhiên và đàm tiếu trong nhân gian, nhất là giới kiều bào Việt ở hải ngoại.

Có người hỏi là ông Trọng đang ở thế kỷ nào vậy?

Tuy nhiên, để công bằng với TBT Trọng, chúng ta hãy thử dùng phép biện chứng Marxist-Leninism để đánh giá lời hiệu triệu làm người đó trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam hiện nay để thực sự tìm câu trả lời là làm người Việt Nam, nhất là người Cộng sản có dễ.

ĐI LÊN TỪ LÝ TƯỞNG CỨU NHÂN LOẠI

Trước tiên, chúng ta hãy suy nghĩ về một hiện tượng kinh tế và tâm lý gần như hiển nhiên ở Việt Nam hiện nay. Đó là sự giàu có của giai tầng cán bộ Cộng sản – mà nhân gian gọi là giới “tư bản Đỏ.” Đây là giai cấp mới, vốn nhân danh lý tưởng vô sản để làm chủ các khối tài sản kếch sù, kể cả bất động sản, vốn là của toàn dân.

Vì dù sao thì chủ nghĩa Mác đã bắt nguồn từ siêu hình học và biện chứng pháp Hegel và Marx, như GS Trọng vẫn sử dụng, vậy chúng ta hãy thử đánh giá hiện tượng này qua phép biện chứng đó.

Trong cuốn The Owl at Dawn (Con Ó Bình minh) (1995), khi diễn tả một khúc quanh siêu hình học Hegel, theo mô thức kinh điển của Hiện tượng luận Trí năng (Phanomenogogie des Geistes), triết gia Mỹ Andrew Cutrofello viết về Thời quán Duy vật Biện chứng như là một bước chân mới của Chân tâm – Geist - trên hành trình Trở về chính mình. Đó là lúc mà ngã thức cá nhân giã từ đức tin tôn giáo và khoa học để tìm đến chân lý trong ý chí chính trị và cách mạng.

Thoạt đầu, người chiến sĩ vô sản khởi đi là những con người cô độc với nhiều tâm tư. Cutrofello viết, “Sự sụp đổ của tri kiến tuyệt đối – mà Hegel nhân danh qua Hiện tượng luận Trí năng – đã nhường bước cho sự rút lui của những ngã thể cô đơn. Cũng như là các tâm hồn cao thượng (beautiful souls), vốn không có hạnh phúc, cái ta đơn lẻ rơi xuống đáy vực tuyệt vọng để rồi hắn có thể xưng hô niềm bất hạnh của mình. Bằng cách xưng tội, hắn tự trách chính mình – vì khả thể dung hợp với đại thể tính của thời đại đã bị bỏ mất cơ hội.”

Đây là giai thời khi mà con người tiền Cộng sản chưa đối diện với cám dỗ duy vật – lúc mà mỗi ngã thể chỉ đối diện chính mình trong nỗi cô đơn tuyệt vọng với một vũ trụ đầy thần linh.

Lành thay, nỗi cô đơn trong phận người vô sản, nghèo khó, trong một cõi sống đầy thần linh đó, đã cho người tiền duy vật một niềm hạnh phúc khổ hạnh bao la.

Họ là những người vô tội – hay chưa có tội - nhưng vẫn nghĩ rằng ta có tội, với người và trời đất. Họ luôn xưng tội với Trời trong nỗi cô đơn tuyệt vọng nhưng đầy cảm lạc.

Tác giả viết tiếp: “Bằng ý thức về căn tính của mình, lập trường tuyệt đối sẽ được đạt đến trong một cộng đồng mà ở đó tình đồng chí là chân thật – hơn là cái ta được định hình bằng sự khác biệt. Đây chính là bản sắc Chân lý và là công tác khởi nguyên cho những người mang lý tưởng cộng sản ban đầu," vẫn theo Cutrofello.

nguyen phu trong

KHI NGƯỜI CỘNG SẢN LÀM CHỦ BẤT ĐỘNG SẢN

Trên bình diện luân lý và đạo đức, tuy nhiên, cái ta Vô sản và Duy vật không những tự mâu thuẫn với chính ta từ góc độ bản thể, mà là về bản sắc ý chí nội tại. Vì sao? Vì khi cách mạng vô sản đã thành công, thì thực tế vô sản từ cấu trúc xã hội bất công được san bằng. Thay vào đó là nguyên tắc tài sản tập thể và chế độ sở hữu chung. Chủ thuyết chung hữu này biến người vô sản, nhân danh nhà nước, thành chủ nhân tất cả tài sản.

Từ đó, chiến lược cai trị của con người cách mạng vừa nắm quyền là một chuyển động duy kinh tế cho tham vọng chủ nhân của họ. Việc trước tiên là chiến thuật chia chác tài sản chung như là thủ pháp phân định chức năng công tác phục vụ Đảng và nhân dân. Khẩu hiệu vô sản như là tiếng súng lệnh xung phong cách mạng cộng sản ngày trước thì nay trở nên một tấm màn gian lận che đậy ước vọng làm chủ tài sản vô hạn của người cộng sản.

Không có gì chinh phục nỗi cô đơn hơn là trở thành giàu có. Tài sản và tiền bạc là thang thuốc vạn năng cho niềm tuyệt vọng vô sản. Vì thế, khi kẻ cùng khổ lên nắm quyền, tiếc thay, thảm kịch quyền lực vẫn như của xã hội cũ. Giai cấp cai trị mới ngày nay cũng gian lận, tàn bạo, trơ trẽn, đầy đểu cáng và đạo đức giả như bao nhiêu chuyện chính trị xưa nay – nếu không nói là tinh tế và gian manh hơn nhiều.

Vì khi cái ta vô sản phủ nhận thiết yếu tính vật chất cho ngã thể bằng cách từ chối tư sản và chức năng chủ nhân, nó chỉ có thể phủ nhận bằng ý thức và khẩu hiệu; trong khi trên thực tế, từ tổ chức Đảng cho đến từng đồng chí cộng sản, vẫn là chủ nhân de facto rất nhiều tài sản, nhất là bất động sản.

Vì thế, ta chỉ là vô sản như là một bình diện duy chính trị, còn thực tại thì ta không thể phủ nhận yếu tố chủ nhân được. Vậy nên, mỗi chiến sĩ vô sản - như ở Việt Nam ngày nay - là một con người in bad faith đầy giả dối với chính mình và xã hội, Cutrofello viết.

Theo đó thì khi người chiến sĩ Cộng sản – nay không còn đơn độc - tự cho mình như là hiện thân của giai cấp vô sản, họ bỗng nhận ra mình là gian dối, đạo đức giả khi thấy được rằng bản sắc ước vọng của ta nay lại được định hình bằng năng ý phủ định và tiêu cực.

Bởi vì cái ta vốn đang có nhiều tài sản trên thực tế, nhưng đứng từ quan điểm chính trị thì ta từ chối điều đó. Tính giả dối này mang thực chất ở bình diện nguyên tắc khi ta chỉ phủ nhận quyền tư hữu nơi tư tưởng, trong khi ta vẫn là chủ nhân nhà cửa, xe cộ, hãng sản xuất, tài khoản ngân hàng.

VIETNAM-POLITICS

BIỆN CHỨNG CHỦ NÔ

Cutrofello so sánh rằng, sự thể vong thân nơi con người Cộng sản gần giống như hoàn cảnh và kinh nghiệm xưa cũ của chủ nhân ông trên biện chứng Chủ-Nô. Chủ nhân bị tha hóa và xa lạ với tên nô lệ và ngay cả chính mình vì, cũng như tên nô lệ, chủ nhân ông không làm chủ những gì mình tạo ra, mà chỉ làm chủ những gì mà kẻ khác tạo ra.

Ông viết, “Cũng như thế, cái ta vô sản cũng bị tha hóa không phải vì hắn không làm chủ tài sản, mà bởi vì trên bình diện tư duy, hắn không công nhận tài sản mà hắn sở hữu là tư hữu của mình. Ta ý thức ra tệ nạn thần bái vật thể của con người tiền cách mạng, nhưng ta muốn giải hóa ảo thức thần bái tài sản này trên bình diện ý thức mà không ở thực tế.”

Hay nói một cách khác, người cộng sản trên bình diện lý tưởng và khẩu hiệu thì phủ định tư sản để rồi trên thực tế ta lại phủ quyết ý thức phủ định này bằng cách tiếp tục sở hữu chúng.

Nó cũng giống như là một đại gia người giàu thường nghĩ đến việc làm từ thiện giúp đỡ kẻ nghèo khó nhưng chưa có dịp thực sự thực thi ý tưởng đó. Trái lại, họ chỉ say sưa nói lời đạo đức trong khi bằng mọi cách tích lũy cho khối tài sản của mình và thân nhân.

MỘT MÀN HÀI KỊCH DỞ DÀI VÔ TẬN

Nói thẳng ra, các chiến sĩ vô sản Việt Nam ngày nay là những diễn viên tấu trong màn kịch vụng về, kéo dài lê thê - khi khán giả đã chán lên tới cổ nhưng vẫn bị ép ngồi xem màn diễn gần như bất tận.

Tuy vậy ta phải nhớ rằng họ vẫn là những con người Việt có lương tâm. Cho nên, các diễn viên hài cộng sản đó không thoát khỏi sự giằng xé nội tâm khi đóng vai tuồng vô sản giả dối. Vì năng lực đầy mâu thuẫn nội tại này ở nơi cán bộ cộng sản, đang nhân danh vô sản, giữa lý tưởng cách mạng từ ý thức đối với một đời sống mang thực chất phản động, đi ngược quy luật, đã trở nên bản sắc nền tảng cho một phép biện chứng ngã thức mới.

Để rồi, khi họ muốn vượt qua thực trạng nội tâm đầy mâu thuẫn và đạo đức giả này, người cộng sản chuyển hệ ý thức của mình sang chủ nghĩa duy chụp giựt - như là một thiết yếu tính cho tân chân lý cách mạng nhằm nắm đầu mối ưu tiên cho ngã thể thực dụng đầy lo sợ và tính toán, thay vì chỉ nuôi dưỡng một lý tưởng thuần tư duy. Đây mới chính là thách thức chính trị lớn cho GS Trọng.

quoc hoi

NHỮNG TUYẾN ĐƯỜNG ‘THOÁT LY’ KIỂU MỚI

Tóm lại, nếu làm đúng như lời TBT Nguyễn Phú Trọng về cuộc cách mạng kế tiếp cho người Cộng sản Việt Nam – như lời kêu gọi của ông – thì mọi đảng viên phải thật tâm làm người cộng sản chân chính. Tức là phải nhận thức được bản chất đạo đức giả của mình, tự lật ngược biện chứng duy vật, để tìm lại con đường đồng chí vô sản như thuở ban đầu cách mạng.

Nhưng đòi hỏi như thế là một yêu sách ý chí tự phủ định chính mình, một điều mà con người cộng sản, nay thực chất là các nhà tân tư bản, không thể vươn lên được.

Câu nói “Nếu là người thì hãy là người cộng sản,” dễn đưa cán bộ đảng viên vào một thế tiến thóai lưỡng nan. Nếu họ tiến tới con đường tư bản thì bị coi là chệch hướng, tự diễn biến; nếu họ rút lui về lý tưởng vô sản thì không khả thi, không tưởng. Tôi tin rằng GS Trọng biết rõ điều này nhưng ông vẫn cứ tung hô vì thực tế quyền lực đòi hỏi rằng các câu sớ cũ vẫn phải dâng cúng đều đặn lên đình làng nhằm giữ một trật tự xóm thôn.

Nhưng bế tắc nào, theo quy luật biện chứng duy vật cũng tạo ra một năng lực thăng hóa (Aufhebung) mới.

Về thực tại của các ẩn số chính trị và kinh tế thì để thoát ra khỏi bế tắc đạo đức chính trị này, tập thể cán bộ đảng viên CS VN hầu hết đang muốn đi vào hai ngả thoát ly.

Một đằng thì muốn ‘thoát ly’ sang Mỹ, châu Âu, Úc, Singapore, làm lại cuộc đời cho chính họ nếu còn kịp hoặc cho gia đình con cháu. Vì chỉ ở các xứ đó, nơi ít đạo đức giả hơn Việt Nam, họ sẽ không còn bức xúc bất an về tính vong thân từ cơ bản nội tâm cho lý tưởng vô sản nữa. Tức là họ công khai giàu có mà không lo sợ nhà nước và Đảng biết, và họ cũng không mang mặc cảm tội lỗi vì mình như thế. Không những vậy, họ còn công khai khoe khoang sự giàu có to tát của họ.

Đằng kia thì họ phải ở lại nước để đóng tiếp vở kịch tập thể. Cách ‘thoát ly tinh thần’ là tìm đến các chùa to lớn, cầu vong, xin sớ giải hạn. Họ khấn nguyện ơn trên thương xót và thông cảm cho họ, mong cuộc đời này không bị nghiệp báo nhãn tiền hay là kiếp sau không còn phải trở lại làm người cộng sản Việt Nam. Điều này giải thích tại sao các chùa ở miền Bắc, như Tam Chúc, Ba Vàng, mỗi cuối tuần đông kín tín đồ như thế.

Đám đông đi chùa cầu cơ giải hạn thì GS Trọng cũng đã từng chứng kiến, nhưng chuyện tư bản đỏ Việt ở Mỹ thì chắc ông chưa tận mắt thấy. Nếu nghi ngờ thì ông luôn có thể thăm Nam California để quan sát. Ví dụ, vùng New Port Coast hay Huntington Harbour chẳng hạn, nơi giá mỗi căn nhà lên đến hàng chục triệu đô. Tại đây, mỗi cuối tuần, trong các buổi picnics và tiệc tùng liên miên, thực khách Việt Nam hầu hết là con em cán bộ đảng viên, cộng sản, đã hân hoan trở thành giai cấp tân tư bản đỏ, the neuveau riche, mới di cư sang Mỹ trong vòng mấy năm gần đây.

Thay vì nói tới đạo đức cách mạng, họ tưng bừng bàn chuyện làm sao để chuyển tài sản ra khỏi nước. Tiền chuyển đi rồi lại đổ về “đầu tư” lên đến hàng tỷ, khiến người Mỹ ngỡ ngàng con số Việt Kiều thật không giàu có gì, thu nhập trung bình thấp trong xã hội Hoa Kỳ, nhịn ăn kiểu gì để có mười mấy tỷ đô một năm “kiều hối gửi về VN”?

Và như phép biện chứng Marxist nhiều lần chứng minh qua lịch sử, trong các đám đông vui nhộn đầy lo toan ở California ấy, có không ít những kẻ hậu vô sản, hậu cộng sản, một cách chân thành, thầm cám ơn những hy sinh ngút ngàn với lý tưởng vô sản của thế hệ cộng sản cha ông thuở trước đã cho họ hôm nay cơ hội thoát cảnh ngộ lưỡng nan, không còn phải chọn kiếp ‘người Cộng sản Việt Nam’.

Bài thể hiện cách hành văn riêng và quan điểm của TS triết học, luật sư Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose, Hoa Kỳ.

Theo BBC Tiếng Việt