Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2022

Nhận diện 8 căn bệnh thời đại của người Việt...

 Những bệnh này đều có ít nhiều trong mỗi chúng ta. Vấn đề cần nhìn nhận cho đúng là nếu biết rèn luyện kềm chế, giữ cho nó dừng lại ở mức nhẹ nhàng thì đó là lẽ tự nhiên thường tình nhưng cứ buông thả để cho nó phát triển thì sẽ bùng nổ” trở thành bệnh hoạn.

Nhận diện 8 căn bệnh thời đại của người Việt

Con người là sinh vật tiến hoá nhất, có khả năng tư duy, diễn đạt biết sáng tạo và sử dụng công cụ lao động, biết cảm thụ cái hay cái đẹp và có mối quan hệ trong cộng đồng ngày càng phong phú và phức tạp. Con người ngay từ buổi sơ khai, sống rất hồn nhiên, trong lành, lương thiện đồng thời cũng đã bộc lộ những mặt xấu, thậm chí rất xấu trong mối quan hệ với đồng loại. Trong quá trình tiến lên cùng với sự hình thành và phát triển xã hội, những mặt tốt và xấu của con người cũng có những biến đổi: biến đổi tích cực và cả những biến đổi tiêu cực.

Những phẩm chất tính cách đó được nảy sinh, lớn dần, được điều chỉnh, xoá bỏ, bổ sung trong bản thể con người đồng thời nó cũng phản ảnh cái sinh hoạt đầy biến động của thế giới bên ngoài. Do đó tính cách con người trong mỗi thời đại đều có những đặc điểm tương ứng.

Trong thời đại ngày nay – thời đại trí tuệ, nhiều phẩm chất tốt của con người xuất hiện và phát triển, nhất là tinh thần đổi mới, ý thức lao động sáng tạo, đã làm thay đổi hẳn bộ mặt đất nước song mặt xấu, mặt tiêu cực cũng nảy sinh, phát triển và cản trở cái thực tiễn xã hội đang vận động của chúng ta. Mặt tốt, mặt anh hùng là chủ yếu, hệ thống truyền thông đại chúng đã nói nhiều, riêng về mặt xấu, những tật xấu thì chúng ta chưa có dịp bàn kỹ, nhất là ở dạng khái quát, tổng kết.

Ở đây, tôi xin phác thảo chân dung những căn bệnh thời đại, mặt trái của giai đoạn lịch sử hiện nay với mong muốn được đông đảo bạn đọc cùng tham gia hoàn thiện với ước mơ được mọi người nỗ lực giúp nhau hạn chế và tiến tới xoá bỏ những gì mà chúng ta đã nhìn thấy.

1. Bệnh cơ hội chủ nghĩa

Đây là căn bệnh của những người không có chính kiến rõ ràng, hay ngả nghiêng, gió chiều nào theo chiều đó, ai mạnh thì theo, thường xuyên tranh thủ lãnh đạo, hành động nhằm mưu cầu lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ, bất chấp đúng hay sai. Họ luôn có ý thức tận dụng mọi cơ hội để tạo uy tín cá nhân gây cảm tình với những người, những cấp có thẩm quyền để dễ dàng được thoả mãn tham vọng cá nhân về chức vụ, lương bổng, phân công công tác phân phối các quyền lợi vật chất – tinh thần. Họ hay gần gũi những người có thần thế, xum xoe, giúp đỡ, kể cả giúp đỡ những việc tầm thường hằng ngày.

Những người mắc bệnh này thường bụng nghĩ một đằng, miệng nói một nẻo; ngồi trong hội nghị nói khác, ra ngoài hành lang nói khác; khi đương chức thì ép mình vào khuôn phép một cách máy móc, thậm chí giả tạo nhưng đến khi về hứa thì buông thả, nói bạt mạng, hành động bạt mạng.

Bệnh cơ hội càng trở nên trầm trọng khi xã hội đang có những bước phát triển nhanh, có nhiều biến động về tổ chức, nhân sự, về cơ chế và hệ thống việc làm. Bệnh này thường xâm nhập vào cán bộ công, nhân viên các cấp có nhiều tham vọng.

2. Bệnh bảo thủ

Bệnh này đang giảm dần nhưng những gì còn lại ở một số người nào đó lại là lực cản lớn lao cho sự phát triển cho công cuộc đổi mới. Đặc biệt những người bảo thủ mà đang nắm giữ những trọng trách ở các cấp, các ngành, các đoàn thể thì sức cản trở của họ tăng lên cấp số nhân. Những người bảo thủ là những người luôn có ý thức duy trì cái cũ không chịu điều chỉnh, thay đổi, bổ sung. Họ thường dị ứng trước những cái mới; ngay cả những cái đã được thử nghiệm thành công, họ cũng rất dè dặt tiếp nhận, ứng dụng. Có những cái sai đã rành rành ra đấy, quần chúng góp ý nhiều nhưng họ vẫn không chịu sửa hoặc đến khi phải sửa thì chỉ sửa nửa vời và sửa ngấm ngầm.

Họ sợ mở rộng dân chủ, tổ chức diễn đàn; ít nghe ngóng, học tập cái hay cái đẹp kể cả những sáng kiến kinh nghiệm đã được đúc kết khẳng định. Việc thẩm định đánh giá con người sự việc (như bầu người lãnh đạo, đề cử người vào những chức danh quản lý, bầu lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, nhận xét cán bộ, nghiệm thu đề tài v.v…) họ đều theo những chuẩn mực cũ. Không ít người có tư tường phục hồi nguyên vẹn những cái đã mất đi trong quá khứ, kể cả những tập tục hủ lậu trái với lương tâm đạo lý và nền văn minh thời đại.

3. Bệnh thực dụng chủ nghĩa

Những người mắc bệnh này thường sống không có lý tưởng, chỉ quan tâm đến những gì mang lại lợi ích thiết thực trước mắt mà ít quan tâm đến toàn diện, lâu dài, nhất là những hoạt động tinh thần, những lợi ích về tư tưởng chính trị. Một số không ít coi tiền là trên hết, là tất cả; lương tâm và đạo lý bao giờ họ cũng đặt xuống dưới. Nhiều vụ xung đột kiện cáo, xâu xé nhau trong gia đình, dòng họ… đều có căn nguyên từ căn bệnh này. Những người này nhìn vấn đề gì cũng méo mó, tầm thường.

Họ ít quan tâm đến quá khứ, đến những giá trị lịch sử; họ cũng chẳng nghĩ mấy đến tương lai. Tầm nghĩ suy của họ ngắn, đơn giản; ít có ước mơ hoài bão, xin đừng nhầm lẫn với những người có đầu óc thực tế, chống tư tưởng hão huyền, càng không nên lẫn lộn với những nhà tư tưởng thực dụng trong trào lưu triết học hiện đại (với không ít yếu tố tích cực) ở phương Tây mà tiêu biểu là Piếc xơ, Jêm, Silơ…

4. Bệnh hám danh, hám địa vị

Kể ra thì ai cũng muốn mình có tiếng tăm tốt, có địa vị trí xứng đáng trong xã hội; thấy những người đã thành danh, có địa vị cao thì ai cũng thèm. Điều đó là lẽ thường tình. Nhưng đến mức mong muốn cuồng nhiệt, dùng thủ đoạn để biến mong muốn thành hiện thực là đã bệnh hoạn rồi.

Trong giai đoạn lịch sử mà nền kinh tế văn hoá xã hội phát triển mạnh, nhiều chức danh hấp dẫn xuất hiện cùng với bao nhiêu quyền lợi và thuận lợi đi kèm, gây sự chú ý đối với mọi người, đặc biệt trong hoàn cảnh dân trí được nâng cao nhất là đối với những người có trình độ, có tài năng. Ngay đối với những người bình thường, hiểu biết còn hạn chế nhưng khi được đề bạt vào chức vụ cao cũng không từ chối và băn khoăn gì,

5. Bệnh nói dối

Đây là bệnh khá phổ biến. Cấp xã báo cáo lên cấp huyện, huyện báo cáo lên tỉnh, tỉnh báo cáo lên Trung ương chẳng mấy khi trung thực. Bao giờ thành tích cũng nhiều lên, thiếu sót ít đi. Khi cần xin kinh phí thì khó khăn bày ra chồng chất; cái gì cũng thiếu, cũng hụt. Khi cấp trên về thì cái tốt phô ra, cái xấu che lại. Nhân viên đi công tác về bao giờ cũng báo cáo theo hướng mình đã làm nhiều, làm có hiệu quả. Về phía lãnh đạo cũng có người thấy được sự thiếu trung thực của cấp dưới nhưng cũng lờ đi, cũng động viên khích lệ để cùng vui vẻ. Dần dần, việc nói dối trở thành quen, không ai thấy xấu hổ, ngượng nghịu nữa.

6. Bệnh đố kỵ, cố chấp

Đây là bệnh của những người hay khó chịu, ghen ghét với những ai có thể hơn mình. Để bụng lâu, có thiên kiến, định kiến lâu đối với những người có sai sót với mình; thiếu hẳn lòng vị tha, sự bao dung độ lượng.

Những người này thường có những biểu hiện nhỏ nhen, sống không được thoáng đãng, hay để ý hay thắc mắc những điều nhỏ nhặt, xử lý trong mọi tình huống, thiếu cao thượng, đẹp đẽ.

7. Bệnh mũ ni che tai, ném đá giấu tay

Những người mắc bệnh này thường có thái độ lảng tránh mọi vấn đề nổi cộm trong cơ quan, đơn vị, địa phương cũng như ngoài xã hội. Họ “chui vào vỏ ốc”, sống vuông vắn, tròn trĩnh. Gặp những cuộc họp có vấn đề cần tranh luận gay gắt, cần đấu tranh phê bình mạnh mẽ thì cáo ốm, xin vắng; nếu bất đắc dĩ phải đi thì chọn một chỗ cuối, kín đáo. ngồi thu lu, im ắng từ đầu đến cuối. Ai trực tiếp hỏi ý kiến thì lắc đầu trả lời là không hay biết chuyện gì hoặc không có suy nghĩ gì.

Khi ở cái thế phải nói thì tiên phát biểu như phản ánh dư luận, nghe người này, người khác. rồi nói lại. Khi trong lòng bức bối muốn phê phán ai thì mượn miệng người này người khác nói giúp.

8. Bệnh ham làm giàu bất chấp ruộng tâm, đạo lý, pháp luật

Thời đại trí tuệ và nền kinh tế thị trường đang mở ra nhiều con đường có thể làm giàu. Mong muốn làm giàu là một khát vọng chính đáng là một động lực mạnh mẽ của sự phát triển. Đảng và Nhà nước ta khuyến khích mọi người làm giàu bằng con đường đúng đắn. Song cái căn bệnh ham làm giàu mà ta nói ở đây là làm giàu bằng mọi giá, bất chấp cả lương tâm, đạo lý và pháp luật. Có kẻ đã làm giàu trên mồ hôi nước mắt và cả xương máu của người khác, từ bỏ cả anh em ruột thịt, thất hiếu với cha mẹ; làm giàu bằng con đường lừa gạt, buôn gian bán lậu. Đặc biệt một số người đã bị sa lưới pháp luật hoặc bị lên án nặng nề nhưng họ vẫn không sám hối, không kiềm chế.

Ngày trước, giàu nhiều khi là cái họa, là xấu; nhưng bây giờ giàu thường được trọng vọng và giải quyết được nhiều vấn đề trong cuộc sống. Do đó, giàu đang là một hình ảnh có sức quyến rũ mạnh. Song trên thực tế, chỉ có một số ít người là có khả năng làm giàu bằng con đường chân chính. Đó là cơ sở cho bệnh ham làm giàu bằng con đường bất chính nẩy nở và phát triển.

Thực ra những bệnh kể trên đều có ít nhiều trong mỗi chúng ta. Vấn đề cần nhìn nhận cho đúng là nếu biết rèn luyện kềm chế, giữ cho nó dừng lại ở mức nhẹ nhàng thì đó là lẽ tự nhiên thường tình nhưng cứ buông thả để cho nó phát triển thì sẽ bùng nổ” trở thành bệnh hoạn.

Chúng ta cần tích cực quyết tâm hạn chế nó, xoá bỏ nó nhưng phải kiên trì vì nó là bệnh đời, có gốc rễ từ nhiều đời, nay có môi trường mới, nhanh chóng lớn lên và vẫn đang gắn bó với từng cuộc đời, đang là cái sự đời của thế cuộc.

Theo TẦM NHÌN

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/11/04/nhan-dien-8-can-benh-thoi-dai-cua-nguoi-viet-5/

Nhà thơ Thế Lữ gửi gắm gì trong tâm sự con hổ nhớ rừng?

(Kỷ niệm 90 năm Phong trào Thơ mới, 1932-2022)

 Nhà thơ Thế Lữ viết bài thơ ‘Nhớ rừng’ nói lên tâm sự một con hổ trong vườn bách thú vào năm 1935, mà đến nay vẫn khiến độc giả luận bàn. Điều đặc biệt là dù có thể quên 46 câu của tác phẩm này, thì người đời sau, cũng không thể quên một câu, ấy là “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?”. Câu thơ sẽ trở thành câu cửa miệng cho những ai rơi vào bi kịch hết thời…

Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989) nổi tiếng trong cả văn chương lẫn sân khấu. Thế nhưng, nhắc đến nhà thơ Thế Lữ là công chúng nghĩ ngay đến bài thơ “Nhớ rừng”. Nhà thơ Thế Lữ đã gửi gắm điều gì vào “lời con hổ ở vườn bách thú” mà bao nhiêu thập niên trôi qua, vẫn còn dư âm trong lòng nhiều thế hệ?

“Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thâm, lá gai, cỏ sắc

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi

Ta biết ta chúa tể muôn loài

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cay xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

– Than ôi! Thời oanh liệt này còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém

Dăm vầng lá hiền lành không bí hiểm

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Nơi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa

Nơi ta không còn được thấy bao giờ

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi

Hỡi cánh rừng ghê gớm của ta ơi”.

Nhớ rừng” chính là lời con hổ ở vườn bách thú của Thế Lữ. Chính vì có ý ấy, mà mở đầu “Nhớ rừng”, Thế Lữ mới dùng “Lời con hổ ở vườn bách thú” làm đề từ, làm lời dẫn cho bài thơ của mình.

Nhà thơ Thế Lữ (1907-1989)

Đây là bài thơ hay vào bậc nhất của Thế Lữ và là bài mở đầu của một thời đại trong thi ca trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh- Hoài Chân. Và sau rất nhiều năm, năm 2005, Nhà xuất bản Giáo dục lại chọn “Nhớ rừng” vào Tuyển thơ Việt Nam thế kỷ 20.

Trong phần giới thiệu về Thế Lữ, Hoài Thanh viết: “Chính tên là Nguyễn Thứ Lễ. Sinh tháng 10 năm Đinh Mùi (1907). Nơi sinh Thế Lữ lấy làm lạ thấy người nói là Thái Hà Ấp Hà Nội, còn thi sĩ thì cứ tưởng là Lạng Sơn, nơi đã ở từ khi còn bé đến năm 11 tuổi. 11 tuổi xuống Hải Phòng. Học đến năm thứ ba ban thành chung thì bỏ để theo sở thích riêng. Sau đó lên Hà Nội học trường mỹ thuật, nhưng lại thôi ngay. Bắt đầu viết từ hồi này. Được ít lâu bị đau lại về Hải Phòng tĩnh dưỡng. Những ý thơ và đôi bài thơ đầu tiên, như bài Lựa tiếng đàn, nẩy ra trong lúc này. Có chân trong Tự lực văn đoàn và trong tòa soạn các báo: Phong hóa, Ngày nay, Tinh hoa. Đã xuất bản: Mấy vần thơ (1935, Đời nay, Hà Nội, 1941)”.

Cũng trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh – Hoài Chân đánh giá rất cao Thế Lữ: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời. Thế Lữ như vừng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công Thế Lữ đã dựng thành nền thơ mới ở xứ sở này…Bởi không có gì khiến người ta tin thơ mới hơn là đọc những bài thơ mới hay. Mà thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh…Thơ Thế Lữ là nơi hẹn hò của hai nguồn thi cảm. Thế Lữ đã băn khoăn trước hai nẻo đường: Nẻo về quá khứ với mơ mòng, nẻo tới tương lai và thực tế”.

Không ngần ngại, Hoài Thanh đã chọn 6 câu trong nhớ rừng: “Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già/ Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi/ Với khi thét khúc trường ca dữ dội/ Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng/ Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng/ Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc” để viết “không ai còn có quyền bĩu môi trước cuộc cách mệnh về thi ca đương nổi dậy.”

Nhiều năm sau, nhà thơ Vũ Quần Phương đã bình “Nhớ rừng” khá tâm đắc: “Bài thơ mượn lời một con hổ ở vườn bách thú. Đề tài đầy kịch tính. Cảnh ngộ là một thân hèn mọn, bất lực, hồn vía là một chúa sơn lâm. Ông chúa này đã hết thời đạp phá hưng dữ, đòi tự do. Ông đã thấm thía sự bất lực và ý thức được tình thế của mình, cam chịu cảnh gặm nhấm một khối căm hờn, nằm dài trông chờ ngày tháng qua, mặc cho thân thế bị tụt xuông ngang hàng với các loài hèn kém. Nhìn bề ngoài, người ta có thể nói: Con hổ này đã được thuần hóa: “Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi/ Với cặp báo chuồng bên vô tư lự”. Nhưng đấy chỉ là bề ngoài, còn thế giới bên trong của mãnh thú, tội nghiệp thay, vẫn ngùn ngụt lửa. Bút pháp lãng mạn của Thế Lữ có dịp tung hoành, có dịp chứng tỏ sức diễn đạt phong phú của thơ mới khi dựng lại khung cảnh kì vĩ trong mộng tưởng của chúa sơn lâm…”

Đấy là nghĩa đen, nghĩa hẹp. Còn về nghĩa bóng, nghĩa rộng…Nhớ rừng chính là bi kịch của những kẻ có sức mạnh, có chí lớn nhưng bị mất tự do, bị giam hãm trong một không gian nhỏ hẹp, không gian nô lệ. Đó cũng là bi kịch của nhiều người dưới thời Pháp thuộc. Nhưng dường như trong cái không gian nô lệ ấy, chúa sơn lâm vẫn không hoàn toàn chịu khuất phục, chính vì thế mà phần cuối của “Nhớ rừng” mới có mấy câu: “Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn/ Để hồn ta phảng phất được gần ngươi/ Hỡi cánh rừng ghê gớm của ta ơi”.

Điều đặc biệt là dù có thể quên 46 câu của tác phẩm này, thì người đời sau, cũng không thể quên một câu, ấy là “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?”. Câu thơ sẽ trở thành câu cửa miệng cho những ai rơi vào bi kịch hết thời. Câu thơ này cũng có giá trị tương tự như câu “Cơm áo không đùa với khách thơ” của Xuân Diệu, câu “Mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng” của Phạm Duy nếu áp dụng vào một tình huống cụ thể khác.

Và nếu trong văn xuôi, Nam Cao để lại trong văn học sử một Chí Phèo ăn vạ, Vũ Trọng Phụng để lại một Xuân tóc đỏ cơ hội, luôn biết xuất hiện đúng nơi, đúng lúc…thì Thế Lữ, Xuân Diệu, Phạm Duy, cũng đã làm được những điều tương tự trong thơ.

Nêu thế để thấy: Thơ để nhớ được một câu, một bài, lại mang giá trị lâu dài trong đời sống, không phải là việc đơn giản.

Đi cùng thời gian, tính đến mùa xuân Nhâm Dần 2022, ít nhất “Nhớ rừng” cũng đã có tuổi thọ gần 90 năm rồi.

ĐẶNG HUY GIANG / Văn Nghệ Sagon

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/11/04/nha-tho-the-lu-gui-gam-gi-trong-tam-su-con-ho-nho-rung/

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Chuyện vua Bảo Đại đi săn qua lời kể của người cận vệ...

 Những câu chuyện về vị vua cuối cùng của triều Nguyễn đã được nhiều sách sử ghi lại, nhưng có những câu chuyện về Bảo Đại mà có lẽ ít người biết đến, đó là cái thú đi săn của vua Bảo Đại qua lời kể của ông Hoàng Nờ – người cận vệ theo hầu Bảo Đại trong 4 năm (1951-1954).

Cụ Hoàng Nờ – lính cận vệ vua Bảo Đại.

Sinh năm 1927 ở vùng quê Lý Hòa, Bố Trạch (Quảng Bình), năm 1949 ông Hoàng Nờ bị bắt vào lính, được đưa về Huế, rồi luyện tập bắn súng Tây, học đi đều ở đồn Mang Cá… Khoảng 3 tháng sau, ông được tuyển lên làm trong Đại đội danh dự Huế bảo vệ Đức Từ Cung trong thành Nội; 4 tháng sau thì được chuyển vào Đà Lạt theo hầu bảo vệ Đức Bảo Đại. Mới đầu ông cùng Trung đội đóng quân ở Dinh III, với biên chế 52 người, trong đó có 6 người ở tư thất để bảo vệ các bà vợ vua (bà Phi Ánh, bà Mộng Điệp và bà Vicky) mỗi bà 2 người lính cận vệ.

Trong 4 năm theo hầu vua Bảo Đại, ông Hoàng Nờ đã được tháp tùng nhà vua đi săn rất nhiều lần, ông không nhớ hết. Tại khu vực Dak Lak, vua Bảo Đại đã đặt chân đến nhiều cánh rừng: Buôn Đôn, Buôn Trấp, Lak, thác Dray Sáp… Hồi ấy, những cánh rừng ở Dak Lak muông thú nhiều vô kể, đặc biệt là cọp, voi rừng, min (bò tót – tức trâu rừng)… con nào con nấy rất to, nặng vài tạ chứ không hiếm như bây giờ. Cụ Nờ nói vua Bảo Đại rất gan dạ. Người khác nghe nói đến cọp thì sợ đến bạt vía; có vùng vì quá sợ cọp kinh quấy mà người dân còn lập miếu thờ “ông ba mươi” để chúa sơn lâm đừng quấy quá hại người. Nhưng vua Bảo Đại thì khác, có lẽ nghĩ mình là “thiên tử” nên ông chẳng sợ gì. Cọp càng dữ ông càng muốn săn, săn cho bằng được. Mỗi lần đi săn, vua thường cho một vài người thân cận đi cùng và một tiểu đội đi theo để bảo vệ vua cũng như mang thú săn được về. Vua Bảo Đại bắn súng rất chuẩn xác, khi vua nổ súng thì không có con nào thoát khỏi. Vua Bảo Đại có rất nhiều súng, những lần đi săn thường mang vài khẩu phù hợp với từng loại thú, như: súng bắn cọp, súng bắn nai… Vua không bắn nhiều, thường chỉ bắn một vài con trong mỗi lần săn. Cả đàn nai vài chục con nhưng vua chỉ bắn 1-2 con, còn riêng voi thì vua không bao giờ bắn mà chỉ bắt, dùng voi nhà làm mồi để nhử voi rừng, sau đó phun thuốc mê ngay để tránh voi kêu đồng bọn quay lại cứu. Các loại thú nhỏ như: heo rừng, nhím, sóc… vua không bao giờ bắn. Ông Nờ kể lần đó vua Bảo Đại nghỉ lại Hồ Lak rồi về Nha Trang, ông cùng với 4 người khác đi tắt về Đà Lạt trước theo đường đèo Chuối thì gặp voi đứng giữa đường. Tài xế bắn thì súng không nổ, lúc đó cả 5 khẩu trên xe đều không nổ, sau đó cả 5 người phải trốn đến 5 giờ sáng khi voi bỏ đi thì mới dám về, đến cầu Đạ Đờn thử lại súng thì rất kỳ lạ cả 5 khẩu đều nổ! Ông khẳng định, lúc đó nếu như súng nổ thì không ai trên xe sống sót mà quay về. Từ chuyện đó mà ông Nờ mới hiểu vì sao vua Bảo Đại không bao giờ bắn voi. 

Vua Bảo Đại (người đứng giữa, mặc áo ngắn tay) trong một lần đi săn ở Buôn Đôn.

Trong các loại thú mà vua Bảo Đại thích săn nhất là cọp. Khi buôn làng nào có người báo về là có cọp xuất hiện, về buôn bắt người, bắt heo gà của dân là vua Bảo Đại sẽ lệnh cho đến đó để hạ cọp. Những lúc như thế, ông Hoàng Nờ cùng với Trung đội mình phải xây chòi cao, đặt bẫy nhử là bò hoặc nai để dụ cọp. Khi cọp vào ăn mồi, vua đứng trên cao nổ súng bắn chết cọp. Những chuyến đi săn cọp trong rừng, sản phẩm thu được đều giao cho ông Tôn Thất Hội phụ trách xử lý và chế biến. Đối với cọp dùng để nấu cao phải đủ 5 con mới nấu. Cọp dùng để lấy da thì lúc vua bắn không để hư bộ lông. Khi bắn được cọp vua bắt phải đốt mấy sợi râu ở miệng cọp đi để tránh có người lấy những sợi râu ấy làm thuốc độc. Trong những năm phục vụ vua Bảo Đại, biết bao lần lăn lộn ở các cánh rừng Tây Nguyên, ông Hoàng Nờ đã chứng kiến vua Bảo Đại bắn hạ vài chục con cọp; có những con to đến vài tạ, phải 4 người lính khiêng vất vả mới lôi ra khỏi rừng được. Những chuyến đi săn dài ngày nhất là khoảng 1 tuần và bà Mộng Điệp là người được đi với vua nhiều nhất. Nếu đi săn ban đêm thì vua đi bằng ô tô, còn đi tham quan ban ngày trong rừng thì vua và bà Mộng Điệp cưỡi chung một con voi, theo sau  là 4-5 con voi chở lính cận vệ theo hầu. Vua Bảo Đại rất hiền toàn xưng hô là anh em, không bao giờ xưng mày tao, nên rất được lòng người. Do vậy, khi đi săn có thể ám sát vua rất dễ nhưng hầu như vua không bao giờ bị bắn cũng bởi lẽ đó…

Ông cũng đã có lần được ăn thịt cọp do vua ban cho đội lính cận vệ; con cọp to nhất mà ông từng khiêng lúc săn được từng sống đến 20 năm nên mùi của nó rất hôi, khi cọp xuất hiện đã ngửi thấy mùi hôi của nó rồi…

Trái ngược với sở thích đi săn của vua Bảo Đại, bà Từ Cung (Hoàng Thị Cúc) – mẹ của vua, là người hiền từ, nhân hậu lại ăn chay niệm phật và cho xây rất nhiều chùa. Bà thường khuyên can vua Bảo Đại chớ có sát sinh, nên mỗi lần vua chuẩn bị đi săn nếu bà biết được sẽ lên tiếng can ngăn.

Nhờ làm cận vệ cho vua Bảo Đại được hơn 4 năm nên ông Hoàng Nờ may mắn có được cuộc sống an nhàn. Khi vua đi nước ngoài một vài tháng ông cùng Trung đội của mình chỉ ăn, chơi, đánh bóng chuyền… Ông tâm sự: “Đời tôi có nhiều cái may lắm, có lẽ mình ăn ở hiền lành nên mới được thế. Được đi đây đi đó cùng vua, được ăn những món ăn của vua ngự ban, đó là điều không phải ai cũng được hưởng…”.

Nguyễn Huy Khuyến / (Nguồn : baodaklak.vn)

7 kỳ quan kiến trúc bị thế giới lãng quên...

Những công trình tuyệt đẹp và ấn tượng được xây dựng công phu này lại được rất ít người biết tới.

1. Tòa nhà quốc hội, Romania

Là công trình dân dụng lớn nhất, đắt nhất và nặng nhất thế giới, tòa nhà quốc hội ở Bucharest lại là một kỳ quan hiếm ai biết tới. Được xây dựng vào năm 1984, tòa nhà theo phong cách tân cổ điển này có 12 tầng (thêm 8 tầng hầm bên dưới), với 3.100 phòng và tổng diện tích lên tới 330.000 m2.

Bên trong tòa nhà quốc hội của Romania.
Bên trong tòa nhà quốc hội của Romania.

Chi phí xây dựng công trình này là 3,3 tỷ euro. Các tấm thảm ở tầng chính trải dọc những hành lang rộng được dệt bên trong tòa nhà lúc thi công. Việc dệt bên ngoài rồi đưa vào là bất khả thi do diện tích quá lớn.

2. Thánh đường Hồi giáo Djenne, Mali

Được xây dựng vào năm 1907, thánh đường Hồi giáo Djenne là công trình xây từ bùn đất lớn nhất thế giới. Toàn bộ công trình xây từ gạch đất phơi khô và vữa trộn từ bùn hoặc thạch cao. Đây được coi là một trong những công trình vĩ đại nhất của kiến trúc Sudano-Sahel và được công nhận là di sản thế giới bởi UNESCO vào năm 1988.

Công trình đồ sộ này được làm hoàn toàn từ bùn đất.

Ba tòa tháp của thánh đường được trang trí bằng các thân cọ. Mùa hè khắc nghiệt ở Bắc Phi khiến các kẽ nứt trong bùn rộng ra và làm công trình suy yếu. Trước khi mùa mưa tới, người dân địa phương tập trung lại và trát một lớp đất sét mới lên.

3. Pháo đài Derawar, Pakistan

40 tháp canh đồ sộ của Derawar sừng sững giữa sa mạc Cholistan cùng với hệ thống tường bao tạo nên tuyến phòng thủ dài 1.500 m và cao tới 30 m.

Việc tới pháo đài đồ sộ này không thuận tiện với các du khách.
Việc tới pháo đài đồ sộ này không thuận tiện với các du khách.

Nhiều người không biết đến công trình này, thậm chí phần lớn người Pakistan không hay biết sự tồn tại của nó. Điều đó không có gì lạ: để tới được pháo đài, du khách phải thuê người dẫn đường có xe dẫn động 4 bánh từ thành phố Bahawalpur băng qua sa mạc  Cholistan để tới pháo đài. Tại đây, du khách phải được sự cho phép của tiểu vương mới được vào trong.

4. Chand Baori, Ấn Độ

Chand Baori ở Rajasthan là một giếng nước sâu khoảng 30 m với các cầu thang đôi dẫn xuống đáy nước xanh biếc. Với 3.500 bậc thang, Chand Baori là một trong những giếng nước dạng này sâu và rộng nhất thế giới.

Công trình tuyệt đẹp này vừa có tính hữu dụng, vừa đầy tính nghệ thuật.
Công trình tuyệt đẹp này vừa có tính hữu dụng, vừa đầy tính nghệ thuật.

Được xây dựng bởi vua Chanda triều Nikumbha vào khoảng 800 - 900 năm sau Công Nguyên, thiết kế của Chand Baori vừa thực tế, vừa đầy chất nghệ thuật. Do kiến trúc của giếng, phần đáy mát hơn trên bề mặt rất nhiều, một điều tuyệt vời giữa không khí nóng bức của Rajasthan.

5. Stari Most, Bosnia-Herzegovina

Cây cầu lịch sử này được xây từ 456 khối đá vào năm 1566 bởi kiến trúc sư MimarHajrudin. Stari Most nằm ở thành phố Mostar và bắc ngang sông Neretva.

Cầu Stari Most
Cầu Stari Most bắc qua sông Neretva.

Với chiều rộng 4 m, chiều dài 30 m và chiều cao 24 m, đây là một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất Bosnia-Herzegovina và cũng là một trong những ví dụ điển hình về kiến trúc Hồi giao ở vùng Balkan. Người dân nơi đây có truyền thống lao từ trên cầu xuống dòng nước lạnh giá của sông Neretva để thể hiện lòng can đảm và tài bơi lội của mình.

6. Trường Thành của Ấn Độ

Chắc hẳn ai cũng biết tới Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, nhưng ít người biết Ấn Độ cũng có một công trình tương tự.

Trường Thành của Ấn Độ, hay còn được gọi là Kumbhalgarh, nằm tại Rajasthan và là tường thành dài thứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau công trình nổi tiếng của Trung Quốc. Một số đoạn tường thành dày tới 4,5 m, kéo dài 36 km với 7 cổng lớn.

Trường Thành của Ấn Độ là tường thành dài thứ hai trên thế giới.

Trường Thành của Ấn Độ là tường thành dài thứ hai trên thế giới.

RanaKumbha , một tiểu vương của Rajasthan, đã cho xây dựng tường thành vào năm 1443 để bảo vệ pháo đài của mình. Theo truyền thuyết, ông không thể hoàn tất công trình dù đã dùng đủ mọi cách. Cuối cùng, tiểu vương đã nhờ tới cố vấn tâm linh và được khuyên phải hiến tế. Một người đã tình nguyện hi sinh và ngày nay, cổng vào chính nằm trên nơi người đó ra đi và một ngôi đền được dựng tại nơi chôn đầu của anh ta.

Tường thành được mở rộng vào thế kỷ 19 và giờ bên trong có tới 360 đền miếu lớn nhỏ, nhưng đây vẫn là một kho báu kiến trúc ít người biết tới trên thế giới.

7. Thánh đường Hồi giáo Sheikh Lotfollah, Iran

Đây là một kiệt tác của kiến trúc Safavid nằm giữa quảng trường Naghsh-iJahan, thành phố Isfahan. Công trình duyên dáng và trang nhã này được xây dựng vào khoảng năm 1603-1619 dưới thời Shah Abbas I.

Trần nhà lộng lẫy của thánh đường.
Trần nhà lộng lẫy của thánh đường.

Điều đặc biệt là thánh đường này không có tháp hay sân trong, có thể đó là do Sheikh Lotfollah không phải một công trình công cộng mà chỉ có vai trò là nơi cầu nguyện của các cung phi.

Mái vòm được lát đá đổi màu theo thời điểm trong ngày, từ màu kem tới màu hồng. Bên trong thánh đường, du khách không khỏi choáng ngợp trước sự phức tạp của các tranh khảm trên tường cũng như trần nhà tuyệt đẹp. Ánh mặt trời lọt qua những cửa sổ trên cao tạo nên sự giao hòa ấn tượng giữa ánh sáng và bóng tối.

Theo Zing

Bí mật khiến “Người đàn ông đứng khỏa thân” bị tác giả chối bỏ...

 

BỨC TRANH “NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỨNG KHỎA THÂN” TỪNG BỊ DANH HỌA LUCIAN FREUD CHỐI BỎ, ÔNG FREUD KHẲNG ĐỊNH ĐÂY KHÔNG PHẢI TRANH DO ÔNG THỰC HIỆN.
Bí mật khiến Người đàn ông đứng khỏa thân bị tác giả chối bỏ - 1
Bức tranh “Người đàn ông đứng khỏa thân” từng bị danh họa Lucian Freud chối bỏ, ông Freud khẳng định đây không phải tranh do ông thực hiện (Ảnh: The Guardian).

Nhưng giới chuyên gia lại tin rằng đây là tranh của Lucian Freud. Đằng sau đó còn có một câu chuyện dài…

Gần 25 năm trước, một nhà sưu tầm nghệ thuật người Thụy Sĩ đã mua một bức tranh được giới thiệu là do danh họa người Anh Lucian Freud thực hiện tại một cuộc đấu giá, tác phẩm khắc họa một người đàn ông khỏa thân trong tư thế đứng.

Sau đó, nhà sưu tầm người Thụy Sĩ nhận được cuộc gọi từ họa sĩ người Anh Lucian Freud đề nghị để ông Freud được mua lại bức tranh này.

Trước đó, nhà sưu tầm và họa sĩ không hề quen biết nhau, nhà sưu tầm từ chối lời đề nghị bởi ông cảm thấy thích bức tranh này. Câu chuyện về sau do nhà sưu tầm kể lại…

3 ngày sau, nhà sưu tầm lại nhận được thêm cuộc gọi từ họa sĩ Lucian Freud, lúc này với thái độ khá giận dữ, danh họa đe dọa rằng nếu nhà sưu tầm không bán lại tranh, ông sẽ lên tiếng phủ nhận rằng mình là người thực hiện bức tranh này, và như thế tác phẩm sẽ trở thành vô giá trị.

Cho tới hôm nay, nhà sưu tầm vẫn ẩn danh, câu chuyện về tác phẩm bị chối bỏ vẫn tiếp tục là một câu chuyện hy hữu, lạ lùng trong giới hội họa.

Nhà sưu tầm người Thụy Sĩ chia sẻ ẩn danh với tờ tin tức Observer (Anh) rằng: “Ông Lucian Freud đã nói rằng ông ấy sẽ trả cho tôi nhiều hơn số tiền tôi đã chi ra để mua tranh, thậm chí nhiều gấp đôi, nhưng tôi từ chối, ông ấy liền trở nên giận dữ và ngôn từ không còn lịch sự. Ông ấy đe dọa rằng vì tôi cứ ngoan cố như vậy, nên tôi sẽ không bao giờ có thể bán được bức tranh đó cho ai nữa”.

Bí mật khiến Người đàn ông đứng khỏa thân bị tác giả chối bỏ - 2
Danh họa người Anh – Lucian Freud (1922 – 2011) (Ảnh: The Guardian).

Trước sự thảng thốt của nhà sưu tầm, sau đó, quả thực phía danh họa đã lên tiếng phủ nhận việc Lucian Freud từng thực hiện bức “Người đàn ông đứng khỏa thân”.

Kể từ sau sự việc đó, bức tranh vẫn ở lại với nhà sưu tầm, sau nhiều năm nhờ các chuyên gia hội họa nghiên cứu tác phẩm, giờ đây, ông này có cơ hội lật ngược tình thế. Một số bên nghiên cứu độc lập có chuyên môn trong lĩnh vực hội họa hiện đã đưa ra kết luận rằng bức “Người đàn ông đứng khỏa thân” thực sự là tác phẩm của danh họa người Anh – Lucian Freud (1922 – 2011).

Không những thế, giới chuyên môn còn tin rằng đây có thể là một bức tranh tự họa của Freud.

Ông Freud đã qua đời hồi năm 2011, giới hội họa ngưỡng mộ ông với tư cách một bậc thầy trong khắc họa làn da và cơ thể khỏa thân.

Bí mật khiến Người đàn ông đứng khỏa thân bị tác giả chối bỏ - 3
Bức tranh khỏa thân “Benefits Supervisor Sleeping” khắc họa nàng thơ Sue Tilley của ông Lucian Freud đã được bán ra hồi năm 2008 với giá 17,2 triệu bảng (Ảnh: The Guardian). 

Cách khắc họa của Lucian Freud đặc trưng với sự chân thực và tạo xúc cảm dữ dội. Bức tranh khỏa thân “Benefits Supervisor Sleeping” khắc họa nàng thơ Sue Tilley của ông đã được bán ra hồi năm 2008 với giá 17,2 triệu bảng, khi ấy, mức giá trả cho tác phẩm đã xác lập kỷ lục về giá trả cho tác phẩm của một họa sĩ còn đang sống.

Nguyên nhân khiến “Người đàn ông đứng khỏa thân” bị chối bỏ

Bức “Standing Male Nude” (Người đàn ông đứng khỏa thân) bị ông chối bỏ là một bức tranh sơn dầu chưa thực sự hoàn tất, tác phẩm có kích thước 43 cm x 65 cm. Nhà sưu tầm ẩn danh sống tại Geneva, Thụy Sĩ, từng mua tác phẩm này tại một cuộc đấu giá hồi năm 1997.

Bức tranh khi ấy được giới thiệu là tác phẩm của Lucian Freud. Nhưng khi họa sĩ lên tiếng chối bỏ tác phẩm, sau đó, các nhà đấu giá sẽ không thể bán bức tranh này được nữa.

Sau quá trình nghiên cứu, chuyên gia hội họa người Thụy Sĩ – ông Thierry Navarro tin rằng việc danh họa Lucian Freud mong muốn mua lại bức tranh là bởi ông cảm thấy ngượng ngùng, bởi nhân vật nam giới xuất hiện trong tranh chính là ông Freud.

Theo điều tra của ông Navarro, bức họa này từng được treo trong căn hộ tại Geneva của danh họa Francis Bacon, một người bạn trong giới hội họa của ông Lucian Freud.

Lý giải về việc tại sao Bacon về sau không còn gìn giữ bức tranh này, ông Navarro cho rằng có thể mối quan hệ giữa Bacon và Freud về sau không còn thân mật, vì vậy, Bacon không còn tha thiết với bức họa này nữa.

Tiến sĩ Nicholas Eastaught, một chuyên gia người Anh trong việc phân tích các tác phẩm nghệ thuật cũng đưa ra kết luận tương tự: “Chúng tôi tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy đây là tác phẩm của Freud và không tìm thấy bằng chứng nào để phủ nhận điều đó”.

Chuyên gia lịch sử nghệ thuật Hector Obalk cũng đã nghiên cứu về bức tranh bị chối bỏ và nhận thấy rằng cách khắc họa làn da trong bức “Người đàn ông đứng khỏa thân” chính là phong cách đặc trưng của Feud.

Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi tiến sĩ Carina Popovici, một nhà khoa học kiêm người đồng sáng lập ra tổ chức Art Recognition (một công ty có trụ sở tại Zurich, Thụy Sĩ, chuyên phân tích các tác phẩm nghệ thuật bằng phương pháp khoa học), cũng tin rằng đây là tác phẩm của Freud.

Hồi năm 2016, một bức tranh khác cũng từng bị Lucian Freud chối bỏ, nhưng tác phẩm cũng đã được giới chuyên gia hội họa tại Anh đánh giá đây đích thực là tác phẩm của Freud.

Lý do khiến ông Freud chối bỏ tác phẩm này là bởi tác phẩm từng thuộc quyền sở hữu của họa sĩ Denis Wirth-Miller, một họa sĩ mà Freud vốn có mối bất hòa lâu năm.

Bích Ngọc / Theo The Guardian

Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2021/11/29/bi-mat-khien-nguoi-dan-ong-dung-khoa-than-bi-tac-gia-choi-bo/


Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

Thủ tướng da màu đầu tiên của Anh – người trẻ nhất trong 200 năm qua...

Ông Rishi Sunak trở thành Thủ tướng nước Anh vào ngày 24/10 sau khi các ứng cử viên khác từ bỏ cuộc đua trở thành lãnh đạo đảng Bảo thủ giữa bối cảnh nhà lãnh đạo tương lai đứng trước nhiệm vụ khó khăn. Đó là chèo lái một đất nước chia rẽ sâu sắc vượt qua cuộc suy thoái kinh tế có nguy cơ đẩy hàng triệu người vào đói nghèo.

Lộ diện Thủ tướng da màu đầu tiên của Anh – người trẻ nhất trong 200 năm qua - Ảnh 1.

Ông Rishi Sunak. Ảnh: Reuters

Ông Sunak, một trong những chính trị gia giàu có nhất Westminster đã được Vua Charles yêu cầu thành lập chính phủ thay thế bà Liz Truss - người đảm nhiệm vị trí Thủ tướng Anh chỉ 44 ngày.

Ông Sunak đã đánh bại chính trị gia theo chủ nghĩa trung dung Penny Mordaunt, người không nhận được đủ sự ủng hộ từ các nghị sĩ để bước vào vòng bỏ phiếu trong khi đối thủ của ông, cựu Thủ tướng Boris Johnson, đã rút khỏi cuộc đua và nói rằng ông không thể đoàn kết đảng Bảo thủ.

"Đây là một quyết định lịch sử và một lần nữa cho thấy sự đa dạng cũng như tài năng của các thành viên trong đảng chúng ta. Tôi sẽ hoàn toàn ủng hộ ông Rishi", bà Mordaunt cho hay trong một thông báo khi rút khỏi cuộc đua chỉ vài phút trước khi người chiến thắng được thông báo.

Ông Sunak, cựu Bộ trưởng Tài chính 42 tuổi, trở thành Thủ tướng thứ ba của nước Anh chỉ trong chưa đầy 2 tháng với nhiệm vụ khôi phục sự ổn định của một quốc gia trải qua nhiều năm rối ren về kinh tế và chính trị.

Ông Sunak là Thủ tướng gốc Ấn đầu tiên và cũng là Thủ tướng da màu đầu tiên của nước Anh. Ở tuổi 42, ông cũng là người trẻ nhất đảm nhận vị trí này trong hơn 200 năm.

Gia đình ông Sunak di cư tới Anh vào những năm 1960. Sau khi tốt nghiệp Đại học Oxford, ông theo học Đại học Stanford và tại đây, ông đã gặp vợ của mình là bà Akshata Murthy, con gái tỷ phú Ấn Độ N. R. Narayana Murthy, người sáng lập tập đoàn Infosys Ltd.

Ông từng giành được đa số sự ủng hộ trong những tuần đầu đại dịch Covid-19 khi công bố kế hoạch hỗ trợ mở rộng cho những người không thể đi làm trong thời gian phong tỏa. So với bà Liz Truss, ông Sunak được cho là có lập trường mềm mỏng hơn trong một số vấn đề như Brexit và kinh tế./.

Theo Shoha VN

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/10/25/thu-tuong-da-mau-dau-tien-cua-anh-nguoi-tre-nhat-trong-200-nam-qua/