Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2022

Cuộc Đầu Độc Vĩ Đại Ở Việt Nam...

Khắp Việt Nam, người dân đang sống với thực phẩm bẩn và thực phẩm tẩm thuốc độc hàng ngày! (Tiền Phong)

Những chuyến xe đêm buồn thảm và tuyệt vọng

Từ bao nhiêu năm nay rồi, quê tôi có những chuyến xe đêm đi thành phố khởi hành lúc một giờ sáng, đến Sài Gòn lúc năm giờ. Có hai loại hành khách thường phải đi xe khuya như vậy: Một là người đi làm thuê và hai là người đi khám bệnh. Đến Sài Gòn lúc năm giờ sáng, người làm thuê kịp giờ đến xí nghiệp và người đi khám kịp vào bệnh viện “bắt số” để xếp hàng. Hành khách đi khám bệnh thường quen nhà xe và quen biết nhau vì họ đi lên đi xuống Sài Gòn tái khám từ năm này qua tháng nọ.

Trên xe, họ trò chuyện thân thiết, hiểu rõ hoàn cảnh gia đình cũng như bệnh tình của nhau, và thường nhắc đến những người bệnh vắng mặt. Cứ dăm ba chuyến xe không gặp thì hiểu là người ấy đã “về nhà” rồi, có nghĩa là về trên chuyến xe chở xác của bệnh viện. Đa số người bệnh trên những chuyến xe khuya ấy đều bệnh ung thư. Quê tôi bệnh ung thư nhiều vô số, đến nỗi có ai đó bị bệnh phải đi Sài Gòn khám là mọi người nói như mặc định “lại ung thư rồi”.

Một trong những địa chỉ quen thuộc ở Việt Nam, nơi mỗi năm có hơn 200,000 ca mắc mới; và khoảng 82,000 ca tử vong (NLĐ)

Ở cửa ngõ Sài Gòn hướng miền Tây có Bệnh viện Triều An, gần như đó là bệnh viện dành cho người miền Tây và dành cho bệnh nhân ung thư. Lúc ông Trầm Bê còn đương thời, ông đã dành một khoản từ thiện tài trợ cho bệnh nhân ung thư, bệnh nhân nghèo bệnh nặng được miễn giảm viện phí ở Triều An.

Con sông quê đã hết hiền hòa

Đa số bệnh nhân ung thư ở quê tôi là nông dân. Trong văn chương nghệ thuật, hình ảnh con sông quê luôn đẹp đẽ hiền hòa. Giờ khác rồi, những con sông quê miền Tây vẫn đẹp mà không hiền chút nào. Tất cả ô nhiễm tới nỗi không ai dám tắm sông nữa. Hình ảnh trẻ con bơi đùa trên sông là xưa rồi. Chúng biết sông rất dơ, hễ xuống sông tắm là sẽ bị ngứa, ghẻ lở, nhiễm độc.

Thành phố có công ty vệ sinh đô thị thu gom rác, chứ nông thôn làm gì có, bao nhiêu rác người dân đều thải xuống sông. Cống rãnh đều dẫn ra sông mà không bao giờ và không ai nghĩ đến chuyện xử lý nước thải. Chợ nông thôn hầu hết đều ở ven sông, tan buổi chợ là tất cả rác rến lùa hết xuống sông. Cách đây mươi năm, hầu hết người dân nông thôn đều đi vệ sinh trên cầu cá, tức là đào cái ao nuôi cá tra, phía trên làm cầu tiêu để lấy phân nuôi cá. Tất nhiên là cái ao có đường cống thông ra sông rạch, có nước ra vô. Sau khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt ra Chỉ thị 100 cấm cầu cá thì đỡ hơn, nhưng đây đó vùng quê vẫn còn.

Sông ngòi miền Tây ô nhiễm kinh hoàng! (RFA)

Dù sao thì rác hữu cơ có dơ chút mà không độc. Những dòng sông quê nhiễm độc là bởi phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, những loại thuốc bảo vệ thực vật cực kỳ độc hại bón trên ruộng lúa, xong rồi xả hết ra sông. Miền Tây trồng lúa ba vụ một năm, đất không có thời gian hồi phục nên phải xài phân thuốc thật nhiều thì lúa mới trúng. Cứ nhìn những doanh nghiệp kinh doanh phân bón, thuốc nông nghiệp giàu lên như thế nào thì đủ biết người nông dân sản xuất lúa toàn bằng phân thuốc.

Khi được sử dụng xong, các chai thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ bỏ lăn lóc bên bờ ruộng hoặc liệng hết xuống sông, hầu như không ai xử lý đúng cách cả. Chúng ta biết là thuốc sâu độc hại ra sao, thuốc diệt cỏ còn hơn vậy. Những người tự tử bằng thuốc sâu thì còn cứu được, chứ uống thuốc cỏ là bó tay luôn. Nông dân biết hết, nhưng họ tỉnh bơ, họ vẫn trữ thuốc độc trong nhà, trong nhà bếp, pha thuốc vào bình xịt xong vứt chai thuốc lăn lóc sau hè. Thậm chí mấy quán tạp hóa ở quê bán thuốc sâu, phân bón chung với thực phẩm luôn.

Mấy anh nông dân than với tôi là mỗi khi đi xịt thuốc về, họ “mắc bịnh” cả tuần chưa hết: Nhức đầu, mệt mỏi, nóng sốt, bải hoải chân tay… Đó chính là tình trạng nhiễm độc thuốc trừ sâu, nhưng họ “quen” rồi, nếu khuyên họ mặc đồ bảo hộ lao động, đeo khẩu trang và kính bảo vệ thì họ không bao giờ nghe, vì “vướng víu khó làm việc”, họ bảo vậy. Những bệnh nhân ung thư tương lai là đây chứ đâu.

Người nông dân đã hết thật thà

Đến nhà nông dân, bạn sẽ thấy họ trồng riêng một mảnh ruộng, một mảnh vườn “đồ nhà”, tức là không bón phân xịt thuốc, để dành riêng nhà họ ăn. Họ biết rõ bón phân xài thuốc là rất độc nhưng họ vẫn làm – để lúa có năng suất cao, rau cải xanh tốt – để bán cho người khác ăn. Riêng gia đình họ khôn hơn, chỉ ăn đồ nhà. Chưa hết, nếu ngày xưa mua gạo về để lâu trong khạp, bạn thấy có mọt. Giờ kiếm không ra con mọt nào đâu, gạo đều đã được xử lý chất bảo quản, để bao lâu cũng không mọt, không mốc. Còn rau cải, người đi chợ có xu hướng tìm rau cải có sâu để bảo đảm không bị xịt phân thuốc, nhưng làm gì tìm ra được. Rau xanh mướt, nhưng đem về nhà để tới chiều là bấy nhầy ra, ủng thối.

Nhà nông bây giờ khỏe re, nuôi heo không còn lo cám gạo rau muống và xắt chuối cây như ngày xưa. Tất cả heo gà vịt cá tôm đều nuôi bằng thức ăn công nghiệp có chất tăng trọng. Đôi khi tôi nghĩ có phải vì thế mà con người cũng béo phì hơn xưa không, ăn thịt toàn chất tăng trọng cơ mà. Tôi có người bạn, con gái làm trang trại nuôi gà công nghiệp. Bạn nói, nó cho gà ăn toàn thuốc và thực phẩm công nghiệp nhập khẩu Trung Quốc, mở đèn, mở máy lạnh cho gà ăn suốt ngày đêm.

Chỉ 3 tuần lễ là con gà to 3-4 kg. Gà không thể đứng nổi, phải nằm ăn, vì xương không phát triển kịp đủ để nâng đỡ trọng lượng. “Bắt con gà lên sẽ thấy nó nặng trịch và thịt cứng ngắc, rất sợ” – bà bạn cho biết vậy. Gà nuôi bằng thuốc rất yếu, dễ chết, chỉ cần cúp điện tắt máy lạnh chừng vài mươi phút là gà ngã ra chết hết luôn. Họ còn nuôi thuốc cho gà đẻ trứng sai, trứng to và đẻ trứng hai tròng đỏ; nhưng con gà đẻ chỉ một, hai lứa là chết vì kiệt sức. Nếu như ở quê tôi không mấy ai ăn thịt gà công nghiệp thì cả Sài Gòn này đều ăn, nhất là các quán cơm gà bình dân bán cho công nhân và sinh viên. Gà vườn giá hai trăm ngàn trong khi gà công nghiệp chỉ khoảng bảy chục ngàn một ký, Người nghèo ăn đồ độc hại là điều đương nhiên rồi.

Người bán thực phẩm, những mụ phù thủy độc ác

Có lần tôi ra cảng cá, thấy cá từ tàu mang lên ướp nước đá nhão nhoét, tôi thắc mắc “Cá như này sao bán được?” Chủ vựa trả lời: Đây mới là cá tươi, bạn hàng mang cá về nhà sẽ “muối” hàn the và ure, hôm sau mang ra chợ thấy cứng sảng, tươi chong chớ mà ăn độc lắm á em.

Hàn the là chất cấm sử dụng trong thực phẩm, là chất độc và lưu trữ vĩnh viễn trong cơ thể mà không bị đào thải qua bài tiết, nhưng người dân quê vẫn sử dụng để bảo quản thực phẩm, làm cho thức ăn tươi lâu, cứng giòn và dai. Chả lụa ướp hàn the sẽ dai ngon và để ngoài nhiệt độ thường hàng tuần lễ không bị hư. Hàn the ướp dưa chuột, dưa kiệu cho giòn, hàn the hay formol dùng trong sản xuất bún, bánh phở cho dai và để được lâu. Người ta còn dùng Tynopal là chất tẩy trắng trong công nghiệp giấy để làm cho bún trắng sáng. Chập tối đi chợ chiều, tôi từng bắt gặp người bán rải từng vốc hàn the lên thớt thịt để giữ thịt có màu đỏ tươi; sáng mai đem ra bán lại, bán hết thịt cũ mới bán tới thịt tươi, trong khi người nội trợ cứ nghĩ đi chợ sớm sẽ mua được thịt tươi ngon, tội nghiệp biết bao!

Ngâm thịt thối để biến thành thịt tươi! (NLĐ)

Đi về vùng biển, tôi được bà con ngư dân chia sẻ một bí mật trong cách làm tôm khô. Tôm biển từ tàu đánh bắt xa bờ (đi ít nhất nửa tháng mới về) thì phải ướp để bảo quản. Cá có thể ướp nước đá, nhưng tôm tép thì không bởi tôm ướp nước đá sẽ bị đen đầu. Do đó, ngư dân phải muối tôm bằng hàn the để giữ được con tôm có màu tươi. Vậy là tôm khô biển rất độc hại, bạn chỉ nên ăn tôm biển từ những tàu đánh bắt gần bờ sáng đi chiều về mà thôi.

Cá khô cũng vậy. Bây giờ ra chợ hải sản khô người ta không thấy ruồi. Cả làng cá ven biển phơi cá lớp lớp trên giàn phơi bốc mùi tanh nồng cũng không thấy con ruồi nào đậu vào. Tại sao? Bạn bè miền biển cho tôi biết, gia đình họ tự phơi cá ăn chứ không bao giờ mua ở chợ, vì cá khô bây giờ đều được ngâm “thuốc ruồi”. Đó là một loại hóa chất diệt côn trùng mua từ bên kia biên giới Việt Nam – Campuchia, chỉ cần ngâm cá vào hóa chất, treo lên giàn một đêm là cá khô bán được, không cần phơi nắng, không bị ruồi bu sinh dòi, làm “cá một nắng” bằng cách ngâm thuốc sẽ bảo quản lâu mà không cần đông lạnh gì cả.

Người ta cũng phát hiện nhà kinh doanh hải sản nhuộm ruốc bằng phẩm màu công nghiệp, đó là chất Rhodamine B dùng nhuộm vải, có thể gây ngộ độc cấp tính và gây ung thư. Vàng Ô (Auramine O) là tên thương mại của chất diarylmethane. Đây là chất màu tổng hợp, chỉ được sử dụng trong công nghiệp để nhuộm và dùng để làm màu sơn quét tường. Thế nhưng người Việt dùng chất đó để nhuộm màu vàng cho măng và dưa cải! Và họ dùng oxyt đồng để nhuộm cho dưa chuột ngâm chua giữ được màu xanh tươi.

Ở Sài Gòn, dù thèm sầu riêng đến mấy tôi cũng không mua. Nhiều người giống như tôi vậy. Họ sợ sầu riêng ngâm thuốc. Con buôn đến từng vườn sầu riêng, bao mua hết vườn, trái non trái già gì họ cũng hái hết, rồi ngâm sầu riêng trong thùng hóa chất; vài hôm sau, sầu riêng chín đều, bán được hết. Những loại trái cây khác như táo, nhãn…, họ cũng ngâm hóa chất – gọi là thuốc phì, chỉ một đêm là táo nở to, trái trông rất ngon; long nhãn nở to đến nỗi nứt cả hạt ra.

Chợ Việt hàng Tàu

Khi tôi đi chợ mua rau củ, tôi chỉ mua hàng xấu, củ nhỏ đèo, màu ít tươi. Tôi nói KHÔNG với hàng Trung Quốc. Tất cả rau củ quả, gia vị như cà rốt, khoai tây, củ hành, tỏi, đường, bột ngọt… đều của Trung Quốc. Chợ Việt Nam toàn hàng Trung Quốc. Rau củ Trung Quốc củ to, màu tươi đẹp, bạn mua về để sáu tháng sau không hư hỏng. Và rất rẻ. Chính một chủ vựa hàng légume nói với tôi rằng, “hàng Trung Quốc vừa rẻ, vừa đẹp, để lâu không bị hư, thì chúng tôi (các nhà kinh doanh) tất nhiên là phải mua bán rồi”.

Tại chợ Kim Biên, Sài Gòn, muốn mua hóa chất “bảo quản” gì cũng có. Tất cả đều là hàng Trung Quốc (TN)

Khi đến cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn, tôi thấy bãi hoa quả Trung Quốc chuẩn bị đưa sang Việt Nam nồng nặc mùi hóa chất bảo quản. Mỗi thùng trái cây có một bịch hóa chất, bạn sẽ không bao giờ thấy nó bởi chủ vựa đã thủ tiêu mất trước khi bán cho người tiêu dùng. Vì vậy, trái cây Trung Quốc không cần bảo quản lạnh vẫn giữ tươi nguyên mấy tháng liền. Dân buôn bán vùng biên giới gọi đó là hàng nóng. Thật bất công khi hàng Việt Nam bán sang Trung Quốc phải là hàng lạnh, trái cây phải được bảo quản bằng xe container lạnh, trong khi hóa chất bảo quản của Trung Quốc bán sang Việt Nam đầy ắp ở chợ Kim Biên, Sài Gòn.

Trong khuôn khổ một bài viết, tôi không biết nói sao cho hết những nỗi khổ của người Việt Nam khi còng lưng làm lụng để rồi phải ăn toàn chất độc, sống trong môi trường nhiễm độc  và chết sớm vì bệnh tật. Trung Quốc cung cấp thuốc độc và người Việt đầu độc lẫn nhau, một cuộc đầu độc vĩ đại có thể khiến đất nước và dân tộc này suy tàn, diệt vong.

Thạch Thảo

ĐCV Bùi Chu: ĐGM Hải Phòng huấn đức...

Chiều ngày 13 tháng 04, năm 2018, Đại Chủng viện Đức Mẹ Vô Nhiễm Bùi Chu hân hoan chào đón Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên, Giám Mục Giáo Phận Hải Phòng về thăm và huấn từ cho các chủng sinh nhân dịp tĩnh tâm tháng tư. Đức Cha đã làm cho không khí của mùa Phục sinh thêm vui tươi. Qua những câu truyện, những hình ảnh dỉ dỏm gợi nhớ tới cố Đức Cha Giuse với nhiều ấn tượng. Đặc biệt với những phân tích sâu sắc về bối cảnh xã hội ngày nay, đang làm phân mảnh, phá huỷ Lâu đài nội tâm. Ngôi nhà nội tâm ấy là gì, phải xây dựng và bảo vệ thế nào? Đó là những thao thức người Mục tử trao gởi cho mỗi người chủng sinh.
 
H1

Trong xã hội vật chất bão hòa, con người ta cảm thấy đầy đủ, dù nghèo thì vẫn nghèo, nhưng sống lối sống của người giầu, xu thế hưởng thụ nhiều hơn. Nhiều bạn trẻ lấy hưởng thụ làm tiêu chuẩn chính. Khi con người cảm thấy đầy đủ và bão hòa trong mọi lãnh vực, và tình trạng xã hội như thế, người ta không để ý đến đời sống nội tâm, mà để ý đến những gì nổi bề ngoài, do đó dẫn đến các hệ lụy:
  • Kiến thức, thoả mãn với thực tại, không học thêm được gì.
  • Các mối mối tương quan bị đóng băng.
  • Đời sống đức tin trống rỗng và đơn điệu.
  • Sứ vụ truyền giáo, coi như đủ không cần nữa.
Khi cảm thấy đầy đủ thì chúng ta chẳng cần gì nữa, không học hỏi thêm, đời sống trống rỗng, đời sống đức tin trống rỗng, không cầu nguyện nữa, đi tìm niềm vui ở chỗ này chỗ khác, mà không tìm thấy niềm vui trong đời sống nội tâm, trong sự kết hợp với Chúa, trong sự dấn thân phục vụ trong việc học hỏi và suy niệm Lời Chúa; thì đương nhiên sẽ tìm niềm vui ở những chỗ nó thuộc về thế gian như niềm vui ở rượu chè, tìm niềm vui ở những thứ chẳng liên quan gì đến đời sống đức tin, tìm niềm vui ở việc chơi cây, chơi xe, nuôi những động vật quý hiếm và nhiều thứ khác. Đó là những hệ luỵ do đời sống nội tâm không có.
H3

Vì thế, chúng ta là chủng sinh, ứng sinh linh mục, người cử hành phụng vụ, giáo dân là người tham gia. Nếu không có đời sống nội tâm, thì tất cả chỉ là những việc làm hời hợt bên ngoài và không đem lại ích lợi gì. Nó giống như một sự kiện văn hoá ngoài đời, người ta chú ý đến việc lôi kéo người khác đến thật đông, thật vui để kinh doanh lợi nhuận.

Nếu thiếu đời sống nội tâm, thì đời tu sẽ trống rỗng vô nghĩa, uổng công. Đời sống nội tâm và hướng nội là cái gì? Tu đức: là mối tương quan giữa ta với Chúa, là mối gắn bó mỗi ngày một lớn lên qua các nhân đức, qua đời sống bác ái. Đời sống nội tâm không phải khả năng đánh giá và tổng quát sự việc, đời sống nội tâm không đơn giản chỉ theo định nghĩa thuần tuý theo cái nhìn văn hoá. Hướng nội hay đời sống nội tâm không phải khả năng trí tuệ đánh giá suy tư về một người sự vật hay sự việc, vì nó hướng tới cái khác vì khi đó chúng ta hướng tới cái khác và hướng ngoại.
 
H4

Câu truyện kể người cha trối lại cho các con trong ruộng có kho báu. Các con đào tìm không thấy kho báu, nhưng vào vụ mùa năm ấy đã thu hoạch bội thu! Nếu chịu khó chăm bón cày sâu thì sẽ được mùa, từ hình ảnh đó đi đến thửa ruộng nội tâm của chúng ta là tâm hồn mỗi người. Có một tình trạng đây đó có những cá nhân ít để ý đến đời sống nội tâm, khi đời sống nội tâm không được quan tâm sẽ dẫn tới những hậu quả trên. Thiếu nội tâm làm hồn sống thì hành động chỉ còn là cơn sốt, tương quan sẽ trở thành hời hợt, phục vụ chỉ là nhằm hư danh. Thiếu đời sống nội tâm còn nhiều hậu quả khác nữa.

Đức Cha khép lại bài huấn đức vời hình ảnh Lâu đài nội tâm. Đời sống nội tâm là căn nhà thiêng liêng, nơi chúng ta gặp gỡ chính mình với tâm hồn bình an và là nơi gặp gỡ Đấng Siêu Việt. Chúng ta cần trang trí căn nhà nội tâm bằng những việc lành, các nhân đức, cầu nguyện gặp gỡ, sống với và gắn bó với Chúa để mỗi việc chúng ta làm được thúc đẩy bằng chính đời sống nội tâm đó. Đức Cha nhắc lại ví von của ĐHY. Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng nhắn gởi các chủng sinh: “Đời sống chủng sinh như con tằm kéo kén làm những sợi tơ để sau này dệt nên những tấm vải đẹp cho đời”.
 
H5


Hồng Đăng Hồ Hoài Anh Sẽ KHOAI Khi Gặp Luật Này Của Tây Ban Nha?

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2022

Hồ Xuân Hương – Khát khao vọng mấy trăm năm lẻ...

Một thời người ta đã bàn nhiều về thơ của bà, “Khi thì nói nàng tục mà không dâm/ Khi thì bảo nàng dâm mà không tục” (Hoàng Trung Thông trong bài thơ đã nhắc ở trên). May mắn là ngay cả ở những thời điểm tồn tại kiểu phê bình văn học thô thiển thì quan điểm “kết án” thơ Hồ Xuân Hương cũng không thắng thế. Vẫn  Hoàng Trung Thông viết về thơ bà: “Đọc lên sang sảng/ Ai thẹn thì cúi đầu/ Ai thích thì nghĩ lâu/ Đó là nàng thơ của một thời một thuở/ Đó là thơ mà không ai không nhớ”.

Tranh vẽ nữ sĩ Hồ Xuân Hương

Ngày 23.11.2021, UNESCO và các nước thành viên đã thông qua Nghị quyết vào năm 2022 sẽ cùng kỷ niệm 200 năm ngày sinh của danh nhân Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 2022) và 250 năm ngày sinh (1772 – 2022), 200 năm ngày mất của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Việc tôn vinh Hồ Xuân Hương, bên cạnh dựa trên giá trị nghệ thuật sự nghiệp thi ca của bà còn là một biểu hiện của tôn vinh bình đẳng giới, đề cao nữ quyền.

Một khát vọng không giấu giếm

Nhà văn Nguyễn Tuân rõ là đã mê Hồ Xuân Hương nên ông mới viết cái bài “Băm sáu cái nõn nường Hồ Xuân Hương”. Nõn, nường là các từ chỉ bộ phận sinh dục, nõn là của nam, nường là của nữ. Nguyễn Tuân viết: “Thế giới quan, nhân sinh quan của Xuân Hương là một nhỡn quan nõn nường. Bất cứ cái gì, bất kể lúc nào và ở đâu, vẫn vang nên chỉ nõn và nường. Câu nào, chữ vần nào cũng chỉ có mỗi cái sự như thế của cái ấy và cái nọ”.

Quả đúng như bậc trưởng lão làng văn nhận xét, hầu như bài thơ Nôm nào, câu thơ Nôm nào của Hồ Xuân Hương cũng gợi cho người đọc nghĩ về những “cái ấy” và “chuyện ấy”: Cỏ gà lún phún leo quanh mép/ Cá giếc le te lội giữa dòng” (Giếng nước); “Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm/ Nứt ra một lõ hõm hòm hom/ Người quen cõi Phật chen chân xọc/ Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm” (Động Hương tích); “Mỏng dày chừng ấy chành ba góc/ Rộng hẹp dường nào, cắm một cây/ Càng nóng bao nhiêu thời càng mát/ Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày” (Cái quạt 1); “Cửa con đỏ loét tùm hum nóc/ Hòn đá xanh rì lún phú rêu/ Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc/ Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo/ Hiền nhân quân tử ai là chẳng/ Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo” (Đèo Ba Dội); “Trai đu gối hạc lom khom cật/ Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng/ Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới/ Hai hàng chân ngọc duỗi song song” (Đánh đu)…

Tượng nữ sĩ Hồ Xuân Hương tại Quỳnh Đôi (Nghệ An). Ảnh: Bùi Duy Tâm

Một thời người ta đã bàn nhiều về thơ của bà, “Khi thì nói nàng tục mà không dâm/ Khi thì bảo nàng dâm mà không tục” (Hoàng Trung Thông trong bài thơ đã nhắc ở trên). May mắn là ngay cả ở những thời điểm tồn tại kiểu phê bình văn học thô thiển thì quan điểm “kết án” thơ Hồ Xuân Hương cũng không thắng thế. Vẫn  Hoàng Trung Thông viết về thơ bà: “Đọc lên sang sảng/ Ai thẹn thì cúi đầu/ Ai thích thì nghĩ lâu/ Đó là nàng thơ của một thời một thuở/ Đó là thơ mà không ai không nhớ”. Và có lẽ nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã rất có lý khi ông thác lời nữ sĩ mà viết: “Tôi gần gũi với những khát khao không yên của con người hiện đại… Tôi là cái ham muốn muôn đời của con người, muốn được sống thật đầy tròn vẹn. Và cũng là cái ham muốn vượt lên trên mọi ràng buộc, không chịu khuất phục các quy phạm, muốn vứt bỏ hết mọi sự thiêng liêng đắp điếm giả tạo để tìm tới cái thiêng liêng chân chính của cuộc sống”.

Điều kỳ lạ là người thể hiện cái “ham muốn muôn đời” ấy lại là một phụ nữ (ở đây, lại bất chợt nhớ đến một nhân vật nữ trong chèo – Thị Màu, cũng là một ham muốn không giấu giếm, một sự vượt lên sự ràng buộc, phá bỏ quy phạm) và có thể nói công khai ở thời đại mà hầu hết các câu thơ của các tác giả viết ra làm cho người ta, nói như F. Engels, tưởng như “con người không có bộ phận sinh dục”. Đó là cái vĩ đại của Hồ Xuân Hương. Và điều đó đã khiến những nỗi khát khao của bà, của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, những khát khao của con người nói chung lồng trong những câu thơ độc đáo vang vọng tới chúng ta sau mấy trăm năm và sẽ còn ngân vang mãi.

LÊ XUÂN SƠN / Báo Phụ nữ VN

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:

Nhà ‘lồng chim’ giữa rừng nhiệt đới...

Một nhóm bạn đã hợp lực để cùng nhau thực hiện ước mơ thiết lập một dự án được bao quanh bởi một khu rừng nhiệt đới ở trung tâm quần đảo Bali, Indonesia.
Nhà lồng chim giữa rừng nhiệt đới - Ảnh 1.

Một nhóm bạn đã hợp lực để cùng nhau thực hiện dự án ước mơ của họ. Công trình là ước mơ về một ngôi làng được bao quanh bởi một khu rừng nhiệt đới ở trung tâm quần đảo Bali, Indonesia.

Nhà lồng chim giữa rừng nhiệt đới - Ảnh 2.

Dự án bao gồm ba cấu trúc nhà sàn bao gồm một hồ bơi chung tích hợp khu vực tắm nắng, bao quanh là vườn cây xanh, lối đi trải đá...

Nhà lồng chim giữa rừng nhiệt đới - Ảnh 3.

Tòa nhà lớn nhất nép mình trong một khu đất dốc nhìn ra một con lạch nhỏ chạy ngang qua nơi nghỉ này.

Nhà lồng chim giữa rừng nhiệt đới - Ảnh 4.

Điểm nhấn của các căn nhà sàn là cấu trúc trụ cột làm nền móng chính. Thay vì đổ móng như thông thường, nhóm kiến trúc sư tạo một kết cấu lạ mắt khi dùng một cọc bê tông làm trụ đỡ chính, phần không gian trống phía dưới được tận dụng làm một khoảng sân nhỏ để thư giãn.

Nhà lồng chim giữa rừng nhiệt đới - Ảnh 5.

Không gian bếp và không gian ăn uống rộng rãi. Kiến trúc sư ưu tiên sử dụng những mảng kính lớn không chỉ giúp căn nhà luôn tràn ngập ánh sáng mà qua đó còn tăng tính kết nối giữa thiên nhiên và con người.

Nhà lồng chim giữa rừng nhiệt đới - Ảnh 6.

Kiến trúc sư chia sẻ, căn nhà lấy ý tưởng từ những chiếc lồng chim, không gian các phòng được bố trí đa dạng. Nội thất phía trong được ưu tiên ốp gỗ. Tông màu chủ đạo xuyên suốt các căn nhà là màu vàng ấm của ánh đèn kết hợp màu nâu gỗ, tạo không gian ấm cúng, hài hòa.

Nhà lồng chim giữa rừng nhiệt đới - Ảnh 7.

Kiến trúc sư cho biết 3 căn nhà sàn được thiết kế để tạo ra độ cao không đồng nhất giữa các tòa nhà. Tất cả các phòng đều có chiều cao khác nhau và kích thước của chúng trải dài từ nhỏ gọn đến rộng rãi, nhằm đảm bảo sự riêng tư.

Nhà lồng chim giữa rừng nhiệt đới - Ảnh 8.

Không gian phòng ngủ được bài trí tối giản, tinh tế.

Theo Nhật Quang / Người đồng hành

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/07/07/nha-long-chim-giua-rung-nhiet-doi/


Thứ Ba, 5 tháng 7, 2022

Tình dục qua bộ phim mới của Emma Thompson...

Emma Thompson (Cornerstone Films)

Nếu bạn viết ra một danh sách các từ thông dụng để chọc tức những kẻ sùng bái trực tuyến một cách mê muội, bạn có thể tìm thấy tất cả chúng trong bộ phim mới “Good Luck to You, Leo Grande” rất thú vị với chủ đề tình dục. Bộ phim phát hành trên dịch vụ phim trực tuyến Hulu có sự tham gia của nữ diễn viên gạo cội Emma Thompson trong vai Nancy…

Trong phim, Emma Thompson đóng vai một giáo viên goá nghỉ hưu thuê một “lao động tình dục” (sex worker) trẻ hơn mình nhiều tuổi (Daryl McCormack đóng) cho một loạt các cuộc hẹn riêng tư. Nancy muốn tìm cảm giác khi ngủ với người không phải chồng (người đàn ông duy nhất bà quan hệ), nhưng quan trọng hơn là muốn tận hưởng tình dục “thực sự” lần đầu tiên trong đời, điều mà bà chưa bao giờ có trước đó.

Chỉ nội việc Good Luck to You, Leo Grande do phụ nữ viết kịch bản, đạo diễn cũng là nữ, đã đủ tạo ra sự tò mò! Sự trung thực của phim về phạm vi rộng của tình dục đã đối lập trực tiếp với cái gọi là “tình dục bình thường” trong những bộ phim trước đó về đề tài tình dục, đặc biệt là những trải nghiệm của phụ nữ. Thái độ của bộ phim đối với hoạt động mại dâm, khi cho rằng nghề này thực sự có thể cung cấp một dịch vụ có ít nhiều giá trị (hỗ trợ tình dục) cũng thể hiện quan điểm cấp tiến ngay với cả Hollywood.

Đạo diễn Sophie Hyde, diễn viên Thompson và nam diễn viên mới McCormack đã thể hiện tất cả những ý tưởng bằng lối diễn tinh tế của họ. Vai diễn trong Good Luck to You, Leo Grande là một trong những vai diễn xuất sắc nhất của Emma Thompson, người từng hai lần đoạt Oscar. Diễn viên 63 tuổi này từ lâu đã là một trong những tiếng nói hàng đầu trong phong trào cổ vũ công khai thảo luận về giới tính trong kỹ nghệ giải trí.

Cảnh trong ‘Good Luck to You, Leo Grande

Nhiều năm trước, bà không đồng ý với ý kiến rằng mọi việc đang tốt hơn đối với các diễn viên nữ trong phim: “Tôi không nghĩ có bất kỳ sự cải thiện đáng kể nào đối với phụ nữ (trong việc khai thác hình ảnh giới nữ trên màn ảnh)”. Thông điệp của hầu hết vai nữ đều cho rằng phụ nữ nên thường xuyên kiểm soát vẻ đẹp cơ thể (và rằng phải nên luôn e ngại về tình dục và nên xấu  hổ trước ham muốn bản thân) đã được lồng khéo léo vào các đối thoại của Nancy. Thompson thể hiện sự nghi ngờ về vẻ đẹp và khát vọng bản thân một cách hài hước, xen lẫn cùng nỗi buồn sâu sắc trong cuộc chiến nội tâm giữa việc muốn mở rộng “hiểu biết” tình dục và niềm tin hàng thập niên rằng làm như vậy là đáng xấu hổ, đặc biệt đối với những phụ nữ lớn tuổi.

Trước Good Luck to You, Leo Grande, Hollywood không có những phim với hình ảnh phụ nữ trên 60 tuổi ngồi thảo luận và miêu tả về ham muốn của họ. Bộ phim duy nhất gần gũi nhất với việc xem hoạt động mại dâm như một nghề nhân đạo đã ra đời cách đây cả thập kỷ. Đó là phim The Sessions của Ben Lewin, trong đó nữ diễn viên Helen Hunt đóng vai một chuyên gia liệu pháp tâm lý tình dục quan hệ với một người đàn ông khuyết tật nặng (John Hawkes) muốn được trải nghiệm tình dục lần đầu trong đời.

Good Luck to You, Leo Grande không phủ nhận thực tế mặt trái của hoạt động mại dâm, đặc biệt đối với phụ nữ, nhưng gợi ra cuộc tranh luận về một suy nghĩ phổ biến là bất kỳ ai tham gia vào lĩnh vực này đều phải bị lên án. Ý tưởng mua sự thân thiết và trả tiền mại dâm của những người cần sự kết nối, tình bạn và hỗ trợ tinh thần là có thật. Khán giả có thể cảm nhận được thông điệp này của bộ phim. Một trong những đoạn độc thoại cảm động nhất trông rất giống một vở kịch trên sân khấu là khi Leo kể cho Nancy nghe một số khách hàng quen thuộc của anh ta, trong đó có một người chỉ muốn nắm tay và xem TV và một người khác bị khuyết tật, chỉ thích nói chuyện chăn gối và tắm chung.

Trong một bài viết trên tạp chí Vogue gần đây, Thompson cho biết khía cạnh nhân bản của bộ phim đã thu hút bà và bà quyết định tham gia phim. Bà nói: “Hỗ trợ tình dục! Rất tốt, nhưng tại sao nó không có trên Dịch vụ Y tế Quốc gia? Tình dục là tự nhiên, bình thường, thú vị, tốt cho tất cả chúng ta, và như Leo nói trong phim, có một số người không thể tiếp cận được vì các lý do khác nhau. Có nên xem bế tắc tình dục là một vấn đề sức khỏe cộng đồng? Nhân vật của McCormack hiểu anh ta có thể làm cho nhiều người thoải mái hơn, cải thiện cuộc sống của họ, thậm chí còn giải thoát họ khỏi đau khổ. Nói tóm lại, Leo dạy cho Nancy về tính nhân bản của mại dâm”.

Bộ phim đưa ra một thông điệp trái ngược với quan điểm hiện tại của thời đại chúng ta, khi nơi quyền tự chủ và quyền lực của phụ nữ đang bị đe doạ. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với người dẫn chương trình Stephen Colbert, Thompson nói: “Good Luck to You, Leo Grande không phải là một chuyện tình lãng mạn kiểu cũ. Phim nói về một người phụ nữ lớn tuổi thử tự làm chủ cuộc sống tình dục của mình nhưng không nhất thiết phải gắn với yêu đương và lãng mạn”.

Lương Thái Sỹ / Saigon Nhỏ

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/07/05/tinh-duc-qua-bo-phim-moi-cua-emma-thompson/


Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

Chuyện đời thực của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn, từ sân trường Văn Khoa trở thành cặp đôi huyền thoại...

https://nhacxua.vn/chuyen-doi-thuc-cua-khanh-ly-va-trinh-cong-son-tu-san-truong-van-khoa-tro-thanh-cap-doi-huyen-thoai/

Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày những bản Trịnh ca đầu tiên ra mắt công chúng, chưa từng có giọng ca nào “vừa vặn” với âm nhạc Trịnh hơn giọng hát Khánh Ly. Thứ âm nhạc ma mị, tuyệt đẹp, đầy sức mê hoặc như nhạc Trịnh có lẽ không cần gì hơn là một giọng hát giản dị, mộc mạc, khoan thai của Khánh Ly. Bất chấp những thị phi bủa vây xung quanh cuộc sống của “nữ hoàng chân đất”, trên sân khấu âm nhạc, người ta luôn thấy ở Khánh Ly một chút gì đó rất Trịnh, từ giọng hát khàn mộc mạc, gương mặt trầm buồn, lối trình diễn khoan thai. Dường như, sau nhiều năm hát Trịnh, những hồn cốt tinh tuý nhất của âm nhạc Trịnh đã thấm đẫm vào con người Khánh Ly một cách vô thức.
Danh ca Khánh Ly gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên vào đầu năm 1965 tại Night Club ở Hotel Du Parc (Đà Lạt). Ấn tượng đầu tiên của Khánh Ly về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đó là một người nho nhã, nhẹ nhàng và lịch thiệp. Lúc này, Trịnh Công Sơn vẫn là một tên tuổi mờ nhạt, vừa mới bắt đầu sáng tác được khoảng 5 năm, nhưng cũng đã có một số ca khúc nổi tiếng được Lệ Thu, Thanh Thúy, Bạch Yến hát. Còn Khánh Ly vẫn là một nữ ca sĩ hát ở vũ trường tỉnh lẻ. Trịnh Công Sơn ngỏ ý mời Khánh Ly về Sài Gòn hát nhưng Khánh Ly từ chối vì cô vẫn còn đang tận hưởng cuộc tự do ở Đà Lạt sau những tháng ngày bức bí ở Sài Gòn. Lúc đó Khánh Ly có một cuộc sống tạm ổn ở Đà Lạt, tiền đi hát dư dả để nuôi con, không có nhu cầu phải kiếm nhiều hơn, và cũng không nghĩ tới việc tìm cách để công chúng biết tới mình.
Home Bài viết Bàn Tròn Âm Nhạc Chuyện đời thực của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn, từ sân trường Văn Khoa trở thành cặp đôi huyền thoại 2022/06/25 Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày những bản Trịnh ca đầu tiên ra mắt công chúng, chưa từng có giọng ca nào “vừa vặn” với âm nhạc Trịnh hơn giọng hát Khánh Ly. Thứ âm nhạc ma mị, tuyệt đẹp, đầy sức mê hoặc như nhạc Trịnh có lẽ không cần gì hơn là một giọng hát giản dị, mộc mạc, khoan thai của Khánh Ly. Bất chấp những thị phi bủa vây xung quanh cuộc sống của “nữ hoàng chân đất”, trên sân khấu âm nhạc, người ta luôn thấy ở Khánh Ly một chút gì đó rất Trịnh, từ giọng hát khàn mộc mạc, gương mặt trầm buồn, lối trình diễn khoan thai. Dường như, sau nhiều năm hát Trịnh, những hồn cốt tinh tuý nhất của âm nhạc Trịnh đã thấm đẫm vào con người Khánh Ly một cách vô thức. Danh ca Khánh Ly gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên vào đầu năm 1965 tại Night Club ở Hotel Du Parc (Đà Lạt). Ấn tượng đầu tiên của Khánh Ly về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đó là một người nho nhã, nhẹ nhàng và lịch thiệp. Lúc này, Trịnh Công Sơn vẫn là một tên tuổi mờ nhạt, vừa mới bắt đầu sáng tác được khoảng 5 năm, nhưng cũng đã có một số ca khúc nổi tiếng được Lệ Thu, Thanh Thúy, Bạch Yến hát. Còn Khánh Ly vẫn là một nữ ca sĩ hát ở vũ trường tỉnh lẻ. Trịnh Công Sơn ngỏ ý mời Khánh Ly về Sài Gòn hát nhưng Khánh Ly từ chối vì cô vẫn còn đang tận hưởng cuộc tự do ở Đà Lạt sau những tháng ngày bức bí ở Sài Gòn. Lúc đó Khánh Ly có một cuộc sống tạm ổn ở Đà Lạt, tiền đi hát dư dả để nuôi con, không có nhu cầu phải kiếm nhiều hơn, và cũng không nghĩ tới việc tìm cách để công chúng biết tới mình. Đó là thời điểm Trịnh Công Sơn đang dạy học ở B’lao (nay là Bảo Lộc), cuối tuần thường lên Đà Lạt chơi, sinh hoạt ca nhạc chung với Khánh Ly trong vòng khoảng 1 năm. Đó cũng là thời gian ông tập cho Khánh Ly hát những sáng tác đầu tiên của mình. Khoảng 1966, Trịnh Công Sơn không còn thường xuyên lên Đà Lạt nữa, mà thường đi đi về về giữa B’lao – Sài Gòn, bắt đầu những bước đầu tiên trong sinh hoạt văn nghệ ở Sài Gòn. Khánh Ly và Trịnh Công Sơn không còn gặp nhau từ đó, họ thoáng đi qua đời nhau như là những phút tình cờ.


Mùa hè năm 1967, có lệnh điều động giáo viên phải nhập ngũ, Trịnh Công Sơn về ở hẳn Sài Gòn, ở chung với người bạn Đinh Cường dưới sự giúp đỡ, che chở của một số sĩ quan cấp cao mến tài âm nhạc của ông, trong đó có trung tá Lưu Kim Cương (sau này là đại tá, rồi được truy thăng cố chuẩn tướng).
Cũng trong năm 1967, cuộc hôn nhân không tình yêu của Khánh Ly với người chồng đầu tiên đi đến hồi kết sau 5 năm lạnh nhạt, không có gì chung với nhau ngoài 2 người con. Cô rời Đà Lạt, đi Nha Trang hát vài tháng, trước khi ôm hai con trở lại Sài Gòn, về lại ở chung với bà nội trên đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) Tại Sài Gòn, một chiều đi trên đường Lê Thánh Tôn, ngang qua một tiệm ăn thì nghe tiếng gọi Mai, Mai… ở bên kia đường. Đó là tiếng gọi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, 2 người gặp nhau sau khoảng 1 năm, cùng mừng rỡ. Trịnh Công Sơn nói ngay: “Mai, tối nay đi hát với anh đi”. Khánh Ly liền đồng ý, dù chưa cần biết là hát cái gì, hát cho ai…, chỉ vì muốn được đi hát trở lại. Lúc đó cô vẫn là tên tuổi gần như vô danh, chưa nhiều người biết tới, nên về Sài Gòn vẫn chưa đi hát trở lại. Khánh Ly kể lại: “Lúc đó, tôi chẳng biết mình hát cho ai, có tiền không, cứ nghe bảo là đồng ý đã. Đêm hát đầu tiên của tôi là năm 1967, trên sân cỏ của Trường Đại học Văn khoa. Tại đó, cỏ đá lởm chởm, ai đến thì ngồi xuống nghe, mỗi người một chỗ. Tôi vừa đến nơi thì choáng ngợp vì quá đông người, khiến tôi sợ hãi. Chưa bao giờ tôi thấy đông người đến thế. Vì run quá nên tôi quyết định bỏ giày ra để đứng cho đỡ chông chênh. Tôi nhớ về thời còn đi chân đất chạy lông nhông ở Đà Lạt để lấy lại bình tĩnh. Đó là hành động tình cờ, chứ không phải chủ đích của tôi là bỏ giày. Tôi đâu dám nghĩ chuyện làm dáng, làm màu, chỉ tìm cách để hát được thôi.
Lúc đó tôi còn không biết nhạc, không thuộc lời, hát trật lên trật xuống. Tôi sợ quá nên vịn vai ông Trịnh Công Sơn, ông hất tay tôi ra nói: Đứng hát cho đàng hoàng”. Sân cỏ ở sân trường Đại Học Văn Hoa đó chính là Quán Văn, nơi tiếng hát Khánh Ly bắt đầu được biết tới rộng rãi, khởi đầu cho một huyền thoại, cũng là nơi xuất phát của biệt danh “Nữ hoàng chân đất” vì hành động bỏ giày đứng chân đất để lấy lại bình tĩnh
Quán Văn nằm trong khuôn viên trường Văn Khoa cũ ở đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng, góc đường Nguyễn Trung Trực), sân khấu được dựng tạm bợ trên một bãi đất trống, với các mảng cỏ thưa thớt, đất đá lô nhô, một sân hát dã chiến dành cho những sinh viên không có tiền để có thể đi nghe nhạc ở phòng trà sang trọng. Đây là nơi các sinh viên được nghe nhạc miễn phí, chỉ phải trả tiền nước giá bình dân, phục vụ trà nónɡ trà đá miễn phí. Thứᴄ uốnɡ ᴄủa Quán Văn đơn ɡiản ᴄhỉ ᴠài ba món: Cà phê, Nướᴄ nɡọt, thườnɡ Ɩà nướᴄ ᴄam BirƖey, Xá Xị ᴄᴏn ᴄọp, nướᴄ đá ᴄhanh đườnɡ pha rượu Rhum, ɡọi tắt Ɩà ᴄhanh Rum. Kể từ lúc đó, Quán Văn trở thành bệ phóng để Trịnh Công Sơn và Khánh Ly cùng nhau trở nên nổi tiếng, trở thành những tên tuổi huyền thoại của nhạc Việt.
Một trong những người đầu tiên đứng ra thành lập Quán Văn là Hoàng Xuân Sơn đã hồi tưởng về sự kiện đặc biệt đó như sau: “Quán Văn Ɩúᴄ nàᴏ ᴄũnɡ đônɡ ᴠui. Nhưnɡ phải đợi đến sự kết hợp Ɩạ thườnɡ diệu ᴠợi ɡiữa Trịnh Cônɡ Sơn ᴠà Khánh Ly, Quán Văn mới trở nên một hiện tượnɡ ᴠà manɡ dấu ấn rõ rệt ᴠề ᴄáᴄ sinh hᴏạt ᴠăn nɡhệ thời thượnɡ. Từ khởi điểm này, đã ᴄó sự ᴄảm thônɡ tuyệt ᴠời ɡiữa nɡhệ sĩ ᴠà quần ᴄhúnɡ. Hát ᴠà Lắnɡ Nɡhe đã trở thành một nhu ᴄầu ᴄần thiết ᴄhᴏ tuổi trẻ. Hát ᴠà Lắnɡ Nɡhe đã bướᴄ đi từ Quán Văn, Ɩan dần ᴠàᴏ ᴄáᴄ đại họᴄ; Ɩớn dậy một phᴏnɡ tràᴏ sinh hᴏạt đầy nhiệt huyết. Một buổi tối ᴄhốnɡ ɡậy Ɩò dò từ hậu Ɩiêu CPS ra sân Quán Văn, tôi bất ᴄhợt nɡhe đượᴄ một tiếnɡ hát Ɩạ kỳ: nửa như quyện từ Ɩònɡ đất âm u, nửa như tự trời thanh ᴄaᴏ rót xuốnɡ. Một tiếnɡ hát ᴄó ma Ɩựᴄ ᴄuốn hút nɡười nɡhe tự buổi đầu hội nɡộ (Nɡõ ban sơ hạnh nɡân dài – ᴄổnɡ xô ᴄòn ᴠọnɡ điệu tài tử qua – Bùi Giánɡ). Trời ươm nắnɡ ᴄhᴏ mây hồnɡ Mây qua mau em nɡhiênɡ sầu ᴄòn mưa xuốnɡ như hôm nàᴏ Em đến thăm, mây âm thầm manɡ ɡió Ɩên Nɡười nɡồi đó trônɡ mưa nɡuồn Ôi yêu thươnɡ nɡhe đã buồn Nɡᴏài kia Ɩá như ᴠẫn xanh Nɡᴏài sônɡ ᴠắnɡ, nướᴄ dânɡ Ɩên hồn muôn trùnɡ Này em đã khóᴄ ᴄhiều mưa đỉnh ᴄaᴏ ᴄòn ɡì nữa đâu sươnɡ mù đã Ɩâu
…. Nhữnɡ ᴄhữ “Khóᴄ”; “Đỉnh Caᴏ” như Ɩàn hơi ᴠút hắt ra. Như dònɡ sốnɡ ᴄhợt kíᴄh nɡất. Rồi bànɡ hᴏànɡ nɡậm Ɩắnɡ Ɩời ru êm ᴠàᴏ hơi thở nhè nhẹ. “Cuộᴄ đời đó ᴄó baᴏ Ɩâu mà hữnɡ hờ”, ᴄhaᴏ ơi saᴏ Ɩại ᴄó ɡiọnɡ hát Ɩiêu trai đến ɡiữa ᴄuộᴄ đời như một tặnɡ phẩm bất nɡờ thế nhỉ? Saᴏ Ɩại ᴄó đườnɡ thanh Ɩột tả hết nhữnɡ Ɩời ᴄa nhiệm mầu Trịnh Cônɡ Sơn? Nànɡ Ɩà ai… là ai? Nɡồi ở đâu đó. Thu mình trᴏnɡ ɡóᴄ tối. Mà tiếnɡ ᴄa như dònɡ nhựa ᴄhảy tràᴏ ᴄả đêm mênh mônɡ? Và tôi, ᴠà em. Mơ hồ ɡiữa một ᴠùnɡ khói sươnɡ Ɩãnɡ đãnɡ.
Nhữnɡ ᴄhiếᴄ ɡhế xíᴄh Ɩại ɡần. Vònɡ tròn nhỏ ᴠây quanh. Chuỗi ᴠònɡ Ɩớn Ɩấp Ɩánh sánɡ Ɩân tinh trên nhữnɡ bựᴄ thềm. Trên ᴄỏ. Và nànɡ tiếp tụᴄ hát. Chiều nay ᴄòn mưa saᴏ em khônɡ Ɩại Nhỡ mai trᴏnɡ ᴄơn đau ᴠùi Làm saᴏ ᴄó nhau – Hằn Ɩên nỗi đau Bướᴄ ᴄhân em xin ᴠề mau Mưa bay ᴠề nhữnɡ hànɡ ᴄây thủy tinh muộn thắp nắnɡ ᴄhiều. Giọt nắnɡ. Giọt nến. Nɡàn ᴄây thắp nến Ɩên hai hàng, để nắnɡ bây ɡiờ trᴏnɡ mắt em. Rồi nànɡ đứnɡ Ɩên Gọi Tên Bốn Mùa. Gọi đêm Ɩiêu trai dài tóᴄ thần thᴏại. ɡọi ᴄuộᴄ tình dấu ᴄhim bay ᴠà kiếp nɡười manɡ nặnɡ từ trẻ thơ mới Ɩọt Ɩònɡ… Khánh Ly! Một ᴄái tên xa Ɩạ ᴄhưa từnɡ nɡhe đến. Có phải Ɩà tiếnɡ phᴏnɡ Ɩinh manɡ ᴠề thành đô ᴄơn ɡió miền ᴄaᴏ Đà Ɩạt? Trịnh Cônɡ Sơn nồnɡ nàn ɡiới thiệu: “Đây Ɩà Mai, mới từ Đà Ɩạt xuốnɡ, sẽ sinh hᴏạt ᴠới anh em mình Ɩâu dài!” Vânɡ, Lệ Mai đã đến. Khánh Ly đã ở Ɩại. ᴠới ᴄhúnɡ ta, thật dài Ɩâu. Việᴄ ɡì phải đến, đã đến: Khánh Ly – Trịnh Cônɡ Sơn ᴄhính thứᴄ xuất hiện trướᴄ ᴄônɡ ᴄhúnɡ tại Quán Văn ᴠàᴏ một tối thứ sáu mùa hè đẹp trời. Dù phươnɡ tiện thônɡ tin phổ biến hạn ᴄhế, dù tất ᴄả sự kiện hᴏàn tᴏàn mới mẻ. Số Ɩượnɡ khán thính ɡiả đêm Khánh Ly – Trịnh Cônɡ Sơn đônɡ đảᴏ ᴄhưa từnɡ thấy. Cáᴄ bạn trẻ nɡồi kín sân ᴄỏ. Tràn ra bên hônɡ ᴠà nɡay ᴄả đànɡ sau Quán Văn. Tất ᴄả nín Ɩặnɡ ᴄhờ nɡhe Khánh Ly – Trịnh Công Sơn hát. Thứᴄ uốnɡ Ɩàm khônɡ kịp! Nhưnɡ ᴄó hề ɡì. Tuổi trẻ đến đây Ɩà để ᴄhia sẻ nhữnɡ ɡiá trị tinh thần. Chia sẻ nỗi khát khaᴏ ᴠà niềm mất mát. Trᴏnɡ từnɡ Ɩời ᴄa tiếnɡ hát. Trᴏnɡ từnɡ hơi thở mớm ru nhau.” 

Mời các bạn nghe lại các bản thu live mà Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã hát tại Quán Văn trong khoảng thời gian 1966-1968:
https://youtu.be/lGLx2kKVw4c
Năm 1991, Khánh Ly đã thực hiện 1 DVD để tái dựng Quán Văn năm 1967 như trong video sau đây:
https://youtu.be/hzdU4AqypD0

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng chia sẻ: “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly.” Trong cuộc đời Khánh Ly, có hai giai đoạn mà cô cảm thấy đáng nhớ nhất là những năm tháng sống vô tư lự hồn nhiên như cỏ dại tại Đà Lạt và những ngày đi hát không thù lao đầy tự do, phiêu lãng với Trịnh Công Sơn. Cô tâm sự: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”.

Home Bài viết Bàn Tròn Âm Nhạc Chuyện đời thực của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn, từ sân trường Văn Khoa trở thành cặp đôi huyền thoại 2022/06/25 Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày những bản Trịnh ca đầu tiên ra mắt công chúng, chưa từng có giọng ca nào “vừa vặn” với âm nhạc Trịnh hơn giọng hát Khánh Ly. Thứ âm nhạc ma mị, tuyệt đẹp, đầy sức mê hoặc như nhạc Trịnh có lẽ không cần gì hơn là một giọng hát giản dị, mộc mạc, khoan thai của Khánh Ly. Bất chấp những thị phi bủa vây xung quanh cuộc sống của “nữ hoàng chân đất”, trên sân khấu âm nhạc, người ta luôn thấy ở Khánh Ly một chút gì đó rất Trịnh, từ giọng hát khàn mộc mạc, gương mặt trầm buồn, lối trình diễn khoan thai. Dường như, sau nhiều năm hát Trịnh, những hồn cốt tinh tuý nhất của âm nhạc Trịnh đã thấm đẫm vào con người Khánh Ly một cách vô thức. Danh ca Khánh Ly gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên vào đầu năm 1965 tại Night Club ở Hotel Du Parc (Đà Lạt). Ấn tượng đầu tiên của Khánh Ly về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đó là một người nho nhã, nhẹ nhàng và lịch thiệp. Lúc này, Trịnh Công Sơn vẫn là một tên tuổi mờ nhạt, vừa mới bắt đầu sáng tác được khoảng 5 năm, nhưng cũng đã có một số ca khúc nổi tiếng được Lệ Thu, Thanh Thúy, Bạch Yến hát. Còn Khánh Ly vẫn là một nữ ca sĩ hát ở vũ trường tỉnh lẻ. Trịnh Công Sơn ngỏ ý mời Khánh Ly về Sài Gòn hát nhưng Khánh Ly từ chối vì cô vẫn còn đang tận hưởng cuộc tự do ở Đà Lạt sau những tháng ngày bức bí ở Sài Gòn. Lúc đó Khánh Ly có một cuộc sống tạm ổn ở Đà Lạt, tiền đi hát dư dả để nuôi con, không có nhu cầu phải kiếm nhiều hơn, và cũng không nghĩ tới việc tìm cách để công chúng biết tới mình. Đó là thời điểm Trịnh Công Sơn đang dạy học ở B’lao (nay là Bảo Lộc), cuối tuần thường lên Đà Lạt chơi, sinh hoạt ca nhạc chung với Khánh Ly trong vòng khoảng 1 năm. Đó cũng là thời gian ông tập cho Khánh Ly hát những sáng tác đầu tiên của mình. Khoảng 1966, Trịnh Công Sơn không còn thường xuyên lên Đà Lạt nữa, mà thường đi đi về về giữa B’lao – Sài Gòn, bắt đầu những bước đầu tiên trong sinh hoạt văn nghệ ở Sài Gòn. Khánh Ly và Trịnh Công Sơn không còn gặp nhau từ đó, họ thoáng đi qua đời nhau như là những phút tình cờ. Mùa hè năm 1967, có lệnh điều động giáo viên phải nhập ngũ, Trịnh Công Sơn về ở hẳn Sài Gòn, ở chung với người bạn Đinh Cường dưới sự giúp đỡ, che chở của một số sĩ quan cấp cao mến tài âm nhạc của ông, trong đó có trung tá Lưu Kim Cương (sau này là đại tá, rồi được truy thăng cố chuẩn tướng). Xem bài khác Sự hiện diện của danh ca Thanh Thúy trong nhạc Trịnh: Ướt Mi, Thương Một Người Đôi nét về ca sĩ – nghệ sĩ Tài Lương trước 1975 Cũng trong năm 1967, cuộc hôn nhân không tình yêu của Khánh Ly với người chồng đầu tiên đi đến hồi kết sau 5 năm lạnh nhạt, không có gì chung với nhau ngoài 2 người con. Cô rời Đà Lạt, đi Nha Trang hát vài tháng, trước khi ôm hai con trở lại Sài Gòn, về lại ở chung với bà nội trên đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) Tại Sài Gòn, một chiều đi trên đường Lê Thánh Tôn, ngang qua một tiệm ăn thì nghe tiếng gọi Mai, Mai… ở bên kia đường. Đó là tiếng gọi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, 2 người gặp nhau sau khoảng 1 năm, cùng mừng rỡ. Trịnh Công Sơn nói ngay: “Mai, tối nay đi hát với anh đi”. Khánh Ly liền đồng ý, dù chưa cần biết là hát cái gì, hát cho ai…, chỉ vì muốn được đi hát trở lại. Lúc đó cô vẫn là tên tuổi gần như vô danh, chưa nhiều người biết tới, nên về Sài Gòn vẫn chưa đi hát trở lại. Khánh Ly kể lại: “Lúc đó, tôi chẳng biết mình hát cho ai, có tiền không, cứ nghe bảo là đồng ý đã. Đêm hát đầu tiên của tôi là năm 1967, trên sân cỏ của Trường Đại học Văn khoa. Tại đó, cỏ đá lởm chởm, ai đến thì ngồi xuống nghe, mỗi người một chỗ. Tôi vừa đến nơi thì choáng ngợp vì quá đông người, khiến tôi sợ hãi. Chưa bao giờ tôi thấy đông người đến thế. Vì run quá nên tôi quyết định bỏ giày ra để đứng cho đỡ chông chênh. Tôi nhớ về thời còn đi chân đất chạy lông nhông ở Đà Lạt để lấy lại bình tĩnh. Đó là hành động tình cờ, chứ không phải chủ đích của tôi là bỏ giày. Tôi đâu dám nghĩ chuyện làm dáng, làm màu, chỉ tìm cách để hát được thôi. Lúc đó tôi còn không biết nhạc, không thuộc lời, hát trật lên trật xuống. Tôi sợ quá nên vịn vai ông Trịnh Công Sơn, ông hất tay tôi ra nói: Đứng hát cho đàng hoàng”. Sân cỏ ở sân trường Đại Học Văn Hoa đó chính là Quán Văn, nơi tiếng hát Khánh Ly bắt đầu được biết tới rộng rãi, khởi đầu cho một huyền thoại, cũng là nơi xuất phát của biệt danh “Nữ hoàng chân đất” vì hành động bỏ giày đứng chân đất để lấy lại bình tĩnh. Quán Văn nằm trong khuôn viên trường Văn Khoa cũ ở đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng, góc đường Nguyễn Trung Trực), sân khấu được dựng tạm bợ trên một bãi đất trống, với các mảng cỏ thưa thớt, đất đá lô nhô, một sân hát dã chiến dành cho những sinh viên không có tiền để có thể đi nghe nhạc ở phòng trà sang trọng. Đây là nơi các sinh viên được nghe nhạc miễn phí, chỉ phải trả tiền nước giá bình dân, phục vụ trà nónɡ trà đá miễn phí. Thứᴄ uốnɡ ᴄủa Quán Văn đơn ɡiản ᴄhỉ ᴠài ba món: Cà phê, Nướᴄ nɡọt, thườnɡ Ɩà nướᴄ ᴄam BirƖey, Xá Xị ᴄᴏn ᴄọp, nướᴄ đá ᴄhanh đườnɡ pha rượu Rhum, ɡọi tắt Ɩà ᴄhanh Rum. Kể từ lúc đó, Quán Văn trở thành bệ phóng để Trịnh Công Sơn và Khánh Ly cùng nhau trở nên nổi tiếng, trở thành những tên tuổi huyền thoại của nhạc Việt. Quán Văn thuở mới thành lập Một trong những người đầu tiên đứng ra thành lập Quán Văn là Hoàng Xuân Sơn đã hồi tưởng về sự kiện đặc biệt đó như sau: “Quán Văn Ɩúᴄ nàᴏ ᴄũnɡ đônɡ ᴠui. Nhưnɡ phải đợi đến sự kết hợp Ɩạ thườnɡ diệu ᴠợi ɡiữa Trịnh Cônɡ Sơn ᴠà Khánh Ly, Quán Văn mới trở nên một hiện tượnɡ ᴠà manɡ dấu ấn rõ rệt ᴠề ᴄáᴄ sinh hᴏạt ᴠăn nɡhệ thời thượnɡ. Từ khởi điểm này, đã ᴄó sự ᴄảm thônɡ tuyệt ᴠời ɡiữa nɡhệ sĩ ᴠà quần ᴄhúnɡ. Hát ᴠà Lắnɡ Nɡhe đã trở thành một nhu ᴄầu ᴄần thiết ᴄhᴏ tuổi trẻ. Hát ᴠà Lắnɡ Nɡhe đã bướᴄ đi từ Quán Văn, Ɩan dần ᴠàᴏ ᴄáᴄ đại họᴄ; Ɩớn dậy một phᴏnɡ tràᴏ sinh hᴏạt đầy nhiệt huyết. Một buổi tối ᴄhốnɡ ɡậy Ɩò dò từ hậu Ɩiêu CPS ra sân Quán Văn, tôi bất ᴄhợt nɡhe đượᴄ một tiếnɡ hát Ɩạ kỳ: nửa như quyện từ Ɩònɡ đất âm u, nửa như tự trời thanh ᴄaᴏ rót xuốnɡ. Một tiếnɡ hát ᴄó ma Ɩựᴄ ᴄuốn hút nɡười nɡhe tự buổi đầu hội nɡộ (Nɡõ ban sơ hạnh nɡân dài – ᴄổnɡ xô ᴄòn ᴠọnɡ điệu tài tử qua – Bùi Giánɡ). Trời ươm nắnɡ ᴄhᴏ mây hồnɡ Mây qua mau em nɡhiênɡ sầu ᴄòn mưa xuốnɡ như hôm nàᴏ Em đến thăm, mây âm thầm manɡ ɡió Ɩên Nɡười nɡồi đó trônɡ mưa nɡuồn Ôi yêu thươnɡ nɡhe đã buồn Nɡᴏài kia Ɩá như ᴠẫn xanh Nɡᴏài sônɡ ᴠắnɡ, nướᴄ dânɡ Ɩên hồn muôn trùnɡ Này em đã khóᴄ ᴄhiều mưa đỉnh ᴄaᴏ ᴄòn ɡì nữa đâu sươnɡ mù đã Ɩâu
…. Nhữnɡ ᴄhữ “Khóᴄ”; “Đỉnh Caᴏ” như Ɩàn hơi ᴠút hắt ra. Như dònɡ sốnɡ ᴄhợt kíᴄh nɡất. Rồi bànɡ hᴏànɡ nɡậm Ɩắnɡ Ɩời ru êm ᴠàᴏ hơi thở nhè nhẹ. “Cuộᴄ đời đó ᴄó baᴏ Ɩâu mà hữnɡ hờ”, ᴄhaᴏ ơi saᴏ Ɩại ᴄó ɡiọnɡ hát Ɩiêu trai đến ɡiữa ᴄuộᴄ đời như một tặnɡ phẩm bất nɡờ thế nhỉ? Saᴏ Ɩại ᴄó đườnɡ thanh Ɩột tả hết nhữnɡ Ɩời ᴄa nhiệm mầu Trịnh Cônɡ Sơn? Nànɡ Ɩà ai… là ai? Nɡồi ở đâu đó. Thu mình trᴏnɡ ɡóᴄ tối. Mà tiếnɡ ᴄa như dònɡ nhựa ᴄhảy tràᴏ ᴄả đêm mênh mônɡ? Và tôi, ᴠà em. Mơ hồ ɡiữa một ᴠùnɡ khói sươnɡ Ɩãnɡ đãnɡ. Nhữnɡ ᴄhiếᴄ ɡhế xíᴄh Ɩại ɡần. Vònɡ tròn nhỏ ᴠây quanh. Chuỗi ᴠònɡ Ɩớn Ɩấp Ɩánh sánɡ Ɩân tinh trên nhữnɡ bựᴄ thềm. Trên ᴄỏ. Và nànɡ tiếp tụᴄ hát. Chiều nay ᴄòn mưa saᴏ em khônɡ Ɩại Nhỡ mai trᴏnɡ ᴄơn đau ᴠùi Làm saᴏ ᴄó nhau – Hằn Ɩên nỗi đau Bướᴄ ᴄhân em xin ᴠề mau Mưa bay ᴠề nhữnɡ hànɡ ᴄây thủy tinh muộn thắp nắnɡ ᴄhiều. Giọt nắnɡ. Giọt nến. Nɡàn ᴄây thắp nến Ɩên hai hàng, để nắnɡ bây ɡiờ trᴏnɡ mắt em. Rồi nànɡ đứnɡ Ɩên Gọi Tên Bốn Mùa. Gọi đêm Ɩiêu trai dài tóᴄ thần thᴏại. ɡọi ᴄuộᴄ tình dấu ᴄhim bay ᴠà kiếp nɡười manɡ nặnɡ từ trẻ thơ mới Ɩọt Ɩònɡ… Khánh Ly! Một ᴄái tên xa Ɩạ ᴄhưa từnɡ nɡhe đến. Có phải Ɩà tiếnɡ phᴏnɡ Ɩinh manɡ ᴠề thành đô ᴄơn ɡió miền ᴄaᴏ Đà Ɩạt? Trịnh Cônɡ Sơn nồnɡ nàn ɡiới thiệu: “Đây Ɩà Mai, mới từ Đà Ɩạt xuốnɡ, sẽ sinh hᴏạt ᴠới anh em mình Ɩâu dài!” Vânɡ, Lệ Mai đã đến. Khánh Ly đã ở Ɩại. ᴠới ᴄhúnɡ ta, thật dài Ɩâu. Việᴄ ɡì phải đến, đã đến: Khánh Ly – Trịnh Cônɡ Sơn ᴄhính thứᴄ xuất hiện trướᴄ ᴄônɡ ᴄhúnɡ tại Quán Văn ᴠàᴏ một tối thứ sáu mùa hè đẹp trời. Dù phươnɡ tiện thônɡ tin phổ biến hạn ᴄhế, dù tất ᴄả sự kiện hᴏàn tᴏàn mới mẻ. Số Ɩượnɡ khán thính ɡiả đêm Khánh Ly – Trịnh Cônɡ Sơn đônɡ đảᴏ ᴄhưa từnɡ thấy. Cáᴄ bạn trẻ nɡồi kín sân ᴄỏ. Tràn ra bên hônɡ ᴠà nɡay ᴄả đànɡ sau Quán Văn. Tất ᴄả nín Ɩặnɡ ᴄhờ nɡhe Khánh Ly – Trịnh Công Sơn hát. Thứᴄ uốnɡ Ɩàm khônɡ kịp! Nhưnɡ ᴄó hề ɡì. Tuổi trẻ đến đây Ɩà để ᴄhia sẻ nhữnɡ ɡiá trị tinh thần. Chia sẻ nỗi khát khaᴏ ᴠà niềm mất mát. Trᴏnɡ từnɡ Ɩời ᴄa tiếnɡ hát. Trᴏnɡ từnɡ hơi thở mớm ru nhau.” Mời các bạn nghe lại các bản thu live mà Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã hát tại Quán Văn trong khoảng thời gian 1966-1968: Click vào hình để nghe nhạc Năm 1991, Khánh Ly đã thực hiện 1 DVD để tái dựng Quán Văn năm 1967 như trong video sau đây: Click để nghe Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng chia sẻ: “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly.” Trong cuộc đời Khánh Ly, có hai giai đoạn mà cô cảm thấy đáng nhớ nhất là những năm tháng sống vô tư lự hồn nhiên như cỏ dại tại Đà Lạt và những ngày đi hát không thù lao đầy tự do, phiêu lãng với Trịnh Công Sơn. Cô tâm sự: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”. Về mối quan hệ giữa Khánh Ly và Trịnh Công Sơn, gần đây phim làm về nhạc sĩ có những hư cấu để “nâng cấp” giữa họ lên gần mức của tình nhân, tuy nhiên Khánh Ly rất nhiều lần nói rằng trong vài chục năm quen biết, lúc nào cô cũng xem nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người anh, người thầy, người cha: “Ông Sơn và tôi ngày đó chỉ ngồi cạnh nhau. Tôi không bao giờ dám hỗn hay ngang vai phải lứa với ông”. … “Tôi không thể nào là bạn của Trịnh Công Sơn được. Tôi chỉ là người con, người em của ông thôi. Trịnh Công Sơn là người ban ơn cho tôi mà. Ơn của ông không thua gì ơn cha mẹ tôi. Cha mẹ tôi tạo hình hài cho tôi ra đời, nhưng ông Sơn mới là người nuôi sống đời sống của tôi sau này. Nếu gọi là bạn, thì tôi hơi hỗn với Trịnh Công Sơn. Tôi không xứng đáng là bạn ông Sơn. Ông Sơn như một người cha, người anh với tôi”. (trích bài phỏng vấn của Long Phạm) Mới đây, trả lời 1 tờ báo trong nước nhân dịp về Việt Nam biểu diễn tháng 6 năm 2022, danh ca Khánh Ly nói về việc đã bị phim hư cấu trở thành một trong những “tình nhân” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Nếu được là người yêu của ông Sơn, tôi hãnh diện chứ. Dễ gì được làm người yêu của Trịnh Công Sơn. Tôi có gì đáng để cho ông ấy yêu đâu. Nếu điều đó là sự thật thì ông Sơn là người thiệt, và tôi là người có lợi. Nhưng mà tôi không thể tự nhận điều đó được. Tôi không thể tham lam, nhận những điều không phải của mình. Và quan trọng là lúc đó tôi đã có gia đình. Các con tôi sẽ nghĩ gì khi xem phim có cảnh mẹ chủ động đi tìm ông Trịnh Công Sơn. Trong khi tôi với bố nó vẫn ở với nhau”. 

nhacxua.vn biên soạn:
https://nhacxua.vn/chuyen-doi-thuc-cua-khanh-ly-va-trinh-cong-son-tu-san-truong-van-khoa-tro-thanh-cap-doi-huyen-thoai/


10 NHẠC PHẨM CHỌN LỌC HAY NHẤT -DVD 17 -DN & VỀ ĐÂY NGHE EM -Trần Quang Lộc -Nguyên Khang...


https://youtube.com/playlist?list=PLBjIEUDjLvRt1zLMt6V8wdS57XxsBRSdc
ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI NHẠC SĨ TRẦN QUANG LỘC (1949-2020) - TÁC GIẢ “VỀ ĐÂY NGHE EM” , “CHO TÔI LẠI TỪ ĐẦU”…
(Tưởng nhớ nhân dịp kỷ niệm buồn 2 năm ngày mất: 7/6/2020-7/6/2022) .
Nhạc sĩ Trần Quang Lộc sinh năm 1949 tại Gio Linh, Quảng Trị. Có nhiều nơi ghi năm sinh năm 1945, tuy nhiên gia đình nhạc sĩ đã xác nhận là ông sinh 1949 và bắt đầu sáng tác khi mới 17 tuổi. Tuyển tập nhạc đầu tiên của ông được phát hành vào năm 1970 tại Sài Gòn mang tên Hát Trong Dòng Sông Xưa.
Những bài hát nổi tiếng nhất mà nhạc sĩ Trần Quang Lộc sáng tác trước năm 1975 là Về Đây Nghe Em (thơ A Khuê), Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội (thơ Tô Như Châu), tuy nhiên 2 ca khúc này chỉ thực sự trở thành hiện tượng và được nhiều người biết đến từ thập niên 1990.
Sau năm 1975, ông sáng tác nhiều thể loại, nhạc vàng có Người Em Sầu Mộng (thơ Lưu Trọng Lư), nhạc quê hương có Áo Hoa (thơ Đỗ Nguyên Kha), nhạc nhẹ có bài Còn Tiếng Hát Gửi Người (thơ Nguyễn Đình Toàn), Em Theo Đoàn Lưu Dân (thơ Phạm Hòa Việt), Cho Tôi Lại Từ Đầu. Nhạc trẻ có Chợt Nghe Em Hát… Những năm cuối đời ông sáng tác khá nhiều, tự thu âm, hòa âm và đăng tải lên trên YouTube của mình.
Trong lần sang Mỹ năm 2010, nhạc sĩ Trần Quang Lộc đã dành cho các đài truyền hình nhiều cuộc phỏng vấn, khi đó ông đã tự bạch về mình như sau:
“Tôi được sinh trưởng tại một vùng quê nghèo ở Quảng Trị, nơi được mệnh danh là đất cày lên sỏi đá, là nơi hứng chịu biết bao nhiêu đau thương. Từ nhỏ tôi đã mê âm nhạc, thường hay theo mẹ đến nhà thờ để nghe nhạc thánh ca. Tuổi thơ của tôi đã được sống trọn vẹn trong những tiếng ru, giọng hò của miền Trung và những bài thánh ca thấm dần.
Khi lớn lên, tôi may mắn được tốt nghiệp trường nhạc ở Huế, sau đó thì vào Sài Gòn để học. Những năm tháng bắt đầu đi học đó, tôi tập sáng tác. ban đầu tôi chỉ nghĩ viết chơi để thỏa mãn giấc mơ của mình. Duyên may, vài nhạc phẩm của tôi được nhiều người biết đến. Từ đó, như là 1 nghiệp dĩ, tôi trở thành người mang nợ đem âm thanh viết thành ca khúc dâng tặng cho đời. Đến nay tôi có khoảng hơn 600 ca khúc với nhiều thể loại khác nhau”.
Ca khúc nổi tiếng đầu tiên của Trần Quang Lộc là Về Đây Nghe Em phổ từ thơ A Khuê. Lúc đó khoảng năm 1968, ông vào Sài Gòn học và làm thêm, đến đàn ở các phòng trà để kiếm tiền đi học. Sài Gòn trong những năm này bị giới nghiêm sau Mậu Thân, nhưng buổi tối các phòng trà vẫn mở. Ông thấy có nhiều nữ sinh còn đi học, tối đến quán bar để làm thêm nghề tiếp viên hoặc vũ nữ với trang phục mát mẻ. Đồng cảm với thân phận vừa đi học, vừa đi làm, Trần Quang Lộc cảm thấy có những ray rứt trong cuộc sống, và nghĩ rằng một lúc nào đó, những cô gái này nên quay về với cuộc sống đời thường, với áo the và guốc mộc.
Cùng thời điểm đó, bắt gặp bài thơ của thi sĩ A Khuê với ca từ rất đồng cảm, ông sáng tác Về Đây Nghe Em:
- Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới
Và về đây nghe lại tiếng xưa…
Bài hát được ca sĩ Elvis Phương hát đầu tiên năm 1970 trong băng Shotguns. Hơn 50 năm qua, bài hát được hầu hết thế hệ ca sĩ Việt Nam trình bày, trở thành bài hát được yêu thích nhất của nhạc sĩ Trần Quang Lộc.
Một bài hát nổi tiếng khác, được Trần Quang Lộc sáng tác năm 1972 nhưng ai cũng tưởng là sau 1975, đó là bài Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội. Ông kể như sau:
“Nhân dịp về nghỉ hè ở Đà Nẵng năm 1972, tôi gặp nhà thơ Tô Như Châu đưa cho tôi bài thơ tựa đề Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội. Đọc bài thơ tôi thấy rất xúc động về những ca từ trong bài và phổ thành ca khúc. Điều thú vị là lúc đó, cả tôi và nhà thơ chưa có ai từng đặt chân đến Hà Nội. Những rung cảm từ ý nghĩa rất đẹp của bài thơ đã mang lại cảm hứng cho tôi sáng tác. Sau năm 1975, bài hát từng được giải thưởng ca khúc viết về Hà Nội hay nhất, và đưa tiếng hát Thu Phương lên tới đỉnh cao”.
Sau năm 1975, cũng như nhiều đồng nghiệp thời đó, nhạc sĩ Trần Quang Lộc tạm gác lại niềm đam mê để lao vào cuộc mưu sinh cơm áo gạo tiền. Lúc này nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn còn ở trong nước và thường xuyên gặp gỡ Trần Quang Lộc. Hai người đã hợp tác chung trong một ca khúc mà sau này
được danh ca Duy Trác hát vào đầu thập niên 1990 là Còn Tiếng Hát Gửi Người.
Trong cuốn Bông Hồng Tạ Ơn, nhà văn – nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn viết về Trần Quang Lộc như sau:
“Trước 1975, có một nhóm văn nghệ sĩ tạm gọi là nhóm Ban Mê thuột, mà Trần Quang Lộc là 1 thành viên, đã quy tụ được một số người trẻ có tài như Vũ Hữu Định, Kim Tuấn, A Khuê, Phan Ni Tấn, Nguyễn Đình Hiếu, Hoàng Quân Hoàng Khởi Phong. Họ không họp thành nhóm, chỉ thỉnh thoảng tụ họp đọc hay hát cho nhau nghe những bài thơ mới, những ca khúc vừa viết xong.
Sau biến cố 1975, họ hầu hết còn rất trẻ, tản mác mỗi người một phương. Người đi được, kẻ lưu lạc về Sài Gòn, tiếp tục đi học tại các trường đại học, một số đi cải tạo, làm lao động, làm ruộng, làm rẫy, một số khác không có công ăn việc làm gì cả, lang thang, lếch thếch, sống theo cái kiểu ghé đâu là nhà, ngã đâu là giường. Chính trong thời gian này Trần Quang Lộc viết được rất nhiều nhạc. Gần như mỗi dịp gặp lại nhau, bạn bè đều được Trần Quang lộc hát cho nghe những sáng tác mới.
Phải nói thêm Trần Quang Lộc là một “nhân vật kỳ lạ”. Có những bài ai nghe cũng thích. Anh có giọng hát rất hay, dù chơi Tây ban cầm không có gì xuất sắc, nhưng tự đệm cho mình hát thì phải nói là tuyệt vời. Trong giọng hát của Lộc có cái buồn dằng dặc của những ngày tháng người ta không biết đi đâu, về đâu. Cái buồn chia tay, cái buồn gặp lại. Hình như người ta không sống với nhau được nữa, vậy mà người ta vẫn phải tồn tại, vẫn phải ăn, cười, nói, và phải giễu cợt tất cả các điều ấy, coi nhẹ hết thảy những điều ấy”.
Nhạc sĩ Trần Quang Lộc sống cả đời với người vợ từ thuở hàn vi là Nguyễn Thị Thuận. Thời trẻ bà là hoa khôi ở Huế, sau này cùng học trung học ở Đà Nẵng, họ từng đàn hát cho nhau nghe trên bãi biển Mỹ Khê, đôi khi xưng “mày – tao” vì cùng tuổi. Sau này, cả 2 cùng vào Sài Gòn học đại học và gặp lại nhau. Ra trường, họ nên duyên dù cha mẹ bà Thuận phản đối vì không thích con gái yêu một nhạc sĩ.
Nhạc sĩ Trần Quang Lộc cùng vợ sống phần lớn thời gian ở Bà Rịa. Cuối thập niên 1990, ông gom góp tiền xây một căn nhà cấp 4 ở địa chỉ 179 Trương Hán Siêu, phường Long Toàn, Bà Rịa.
Ngày đó vì không đủ tiền nên căn nhà phải được xây đến mấy lần cách quãng mới xong. Ban đầu chỉ có phòng khách, sau đó mới xây thêm bếp và sân. Vì vậy gạch nền trong nhà có đến mấy loại khác nhau.

Cũng tại căn nhà nhỏ này, nhạc sĩ Trần Quang Lộc đã từng mưu sinh bằng việc mở một lớp nhạc nhỏ để dạy piano, guitar, organ, bass, cũng như hướng dẫn sáng tác, hòa âm, thu âm.
Lớp học chỉ là những bộ bàn ghế được lắp ghép nhiều loại. Khi nhạc sĩ lâm bệnh hồi 6 năm trước, ông không dạy được nữa, bàn ghế lớp học cũng phải dọn đi để chừa chỗ cho ông nghỉ ngơi.
Tháng 5 năm 2020, trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, khi nghe bác sĩ nói rằng bệnh của ông khó có khả năng cứu chữa được nữa, nhạc sĩ Trần Quang Lộc có nguyện vọng trở về căn nhà nhỏ của mình, rồi qua đời bình yên tại đây trong vòng tay của gia đình.