Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2022

KNhững kỷ lục khó tin của Nữ hoàng Anh Elizabeth II...

Nữ hoàng Elizabeth II không chỉ là người trị vì lâu nhất ở Anh, mà còn giữ kỷ lục là nguyên thủ quốc gia cao tuổi nhất trên thế giới.

Nữ hoàng Elizabeth II lên nắm quyền năm 1952, sau khi vua cha George VI qua đời. Tới nay, bà đã trị trì Vương quốc Anh trong 70 năm và gần 4 tháng, lâu hơn bất kỳ vị quân chủ nào khác trong lịch sử nước này.

Kỷ lục trước đó thuộc về Nữ hoàng Victoria, người đã trị vì trong 63 năm, 7 tháng và hai ngày trước khi qua đời năm 1901, hưởng thọ 81 tuổi.

Ở tuổi 96, Nữ hoàng Elizabeth II còn là vị quân chủ và nguyên thủ quốc gia cao tuổi nhất thế giới.

Trên thế giới chỉ có hai vị vua có thời gian trị vì lâu hơn bà. Vua Louis XIV của Pháp nắm quyền trong 72 năm, còn Vua Bhumibol Adulyadej của Thái Lan trị vì trong 70 năm 4 tháng, trước khi ông qua đời vào tháng 10/2016.

Nữ hoàng Elizabeth II dự sự kiện bên ngoài Điện Buckingham ở London ngày 7/10/2021.

Nữ hoàng Elizabeth II dự sự kiện bên ngoài Điện Buckingham ở London ngày 7/10/2021. (Ảnh: Reuters).

Nữ hoàng Eliazbeth II còn giữ một kỷ lục khác về đi lại trên toàn cầu. Bà đã tới hơn 100 quốc gia trên thế giới kể từ năm 1952, cũng như thực hiện hơn 150 chuyến thăm đến các nước trong Khối Thịnh vượng chung.

Canada là điểm đến nhiều nhất trong sự nghiệp của Nữ hoàng, với 22 lần. Tại châu Âu, Pháp là quốc gia bà tới thăm nhiều nhất với 13 lần, đồng thời Nữ hoàng cũng thông thạo tiếng Pháp. Telegraph ước tính tổng chiều dài các chuyến đi của Nữ hoàng tương đương 42 lần vòng quanh thế giới.

Chuyến công du nước ngoài dài nhất của bà kéo dài 168 ngày từ tháng 11/1953 tới tháng 5/1954, tới tổng cộng 13 quốc gia. Đến tháng 11/2015, ở tuổi 89, bà mới dừng các chuyến công du nước ngoài.

Bà cũng được coi là một trong những người bận rộn nhất thế giới. Khi còn là công chúa 21 tuổi, bà đã cam kết cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp phục vụ Khối Thịnh vượng chung. Trên cương vị Nữ hoàng, bà đã thực hiện khoảng 21.000 cuộc gặp, thông qua 4.000 bộ luật và tiếp đón 112 chuyến thăm cấp nhà nước của các nguyên thủ nước ngoài.

Trong số những người bà từng tiếp đón có hoàng đế Haile Selassie của Ethiopia năm 1954, Nhật hoàng Hirohito năm 1971, tổng thống Ba Lan Lech Walesa năm 1991 và tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2011.

Cung điện Buckingham của bà đã tổ chức hơn 180 bữa tiệc, đón tiếp hơn 1,5 triệu người tham dự.

 Trong lĩnh vực chính trị, bà cũng là người chứng kiến nhiều thay đổi nhất của chính phủ Anh, với 14 thủ tướng phục vụ dưới thời của bà. Người đầu tiên là thủ tướng Winston Churchill (từ năm 1952 đến 1955) và người gần đây nhất là Thủ tướng Boris Johnson, kể từ năm 2019.

Nữ hoàng cũng thường xuyên tổ chức các cuộc họp riêng với thủ tướng Anh tại Điện Buckingham hàng tuần.

Nữ hoàng Elizabeth II đã gặp 13 trong 14 tổng thống Mỹ gần đây nhất, ngoại trừ Lyndon B. Johnson. Lãnh đạo Nhà Trắng gần đây nhất mà bà tiếp đón là Tổng thống Joe Biden, người tới thăm năm 2021.

Nữ hoàng Elizabeth và Hoàng thân Philip tại Hampshire năm 2007.
Nữ hoàng Elizabeth và Hoàng thân Philip tại Hampshire năm 2007. (Ảnh: AFP).

Cuộc hôn nhân của bà kéo dài 73 năm, một kỷ lục đối với người đứng đầu hoàng gia Anh. Chồng bà là Hoàng thân Philip, người qua đời vào tháng 4 năm ngoái ở tuổi 99.

Năm 1996, Nữ hoàng Elizabeth II trở thành người đầu tiên trong hoàng gia Anh tới thăm Trung Quốc. Bà cũng là người đầu tiên phát biểu tại Hạ viện Mỹ ở Washington.

Vương quốc Anh đang tổ chức Đại lễ Bạch kim kỷ niệm 70 năm .... vì của bà, với các màn diễu hành hoành tráng và những bữa tiệc trên đường phố. Đây nhiều khả năng là Đại lễ Bạch kim đầu tiên và duy nhất của Anh, cũng có thể là lễ kỷ niệm lớn cuối cùng trong triều đại của Nữ hoàng.

Theo VN Express

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/06/04/nhung-ky-luc-kho-tin-cua-nu-hoang-anh-elizabeth-ii/

......................................

https://khoahoc.tv/tu-a-den-z-nhung-dieu-can-biet-ve-dai-le-bach-kim-cua-nu-hoang-anh-120613

Từ A đến Z những điều cần biết về Đại lễ Bạch Kim của Nữ hoàng Anh

Đại lễ Bạch Kim là gì?
 Nữ hoàng Elizabeth II sẽ trở thành vị quân vương Anh đầu tiên trong lịch sử mừng Đại lễ Bạch Kim, đánh dấu 70 năm trị vì của mình. Đây là sự kiện đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với cả Liên hiệp Anh và Khối Thịnh vượng chung.

Sự thật về Đại lễ Bạch Kim của nữ hoàng Anh


Nữ hoàng lên ngôi vào tuổi 26, ngay sau khi vua cha George VI băng hà vào ngày 6/2/1952. Suốt 7 thập kỷ trôi qua, Nữ hoàng đã trở thành một biểu tượng của nước Anh và được người dân Anh hết mực kính yêu.

Nữ hoàng Anh tại sự kiện đầu tiên mừng Đại lễ hôm 15/5
Nữ hoàng Anh tại sự kiện đầu tiên mừng Đại lễ hôm 15/5

Vào ngày 9/5 vừa rồi, Nữ hoàng cũng đã đánh dấu một cột mốc quan trọng khi trở thành vị quân chủ tại vị lâu thứ 3 trong lịch sử, vượt qua Vương công Johann II của Liechtenstein.

Để kỷ niệm cột mốc trọng đại chưa từng có tiền lệ này, các sự kiện và lễ hội sẽ được tổ chức xuyên suốt năm 2022, mà quan trọng nhất là dịp lễ từ ngày 2/6 đến 5/6 tới đây. Danh sách người tham dự có cả Hoàng tử Harry và công nương Meghan Markle, cùng con trai Archie và con gái Lilibet.

Tuy vậy, cung điện thông báo rằng vị trí trên ban công Buckingham vào buổi lễ Trooping the Colour truyền thống vào ngày 2/6 sẽ chỉ dành cho những thành viên đang phục vụ Hoàng gia.

Đại lễ Bạch Kim diễn ra khi nào?

Mặc dù lễ kỷ niệm đã được tổ chức vào ngày 6/2 vừa qua, phần hội và các sự kiện chính sẽ diễn ra vào đầu tháng 6. Cụ thể, sự kiện chính diễn ra trong 4 ngày 2/6 đến 5/6, được tổ chức cùng kỳ nghỉ Ngân hàng (Bank holiday) của Anh.

Lễ hội bao gồm các sự kiện công chúng, nhiều hoạt động cộng đồng, và các buổi kỷ niệm, vinh danh 70 năm trị vì của Nữ hoàng.

Một điều đặc biệt là ngày đầu tiên diễn ra lễ hội - 2/6 - cũng là ngày đăng quang chính thức của Nữ hoàng vào 69 năm trước, 2/6/1953.

Đại lễ Bạch Kim gồm những sự kiện gì?

Ngày 2/6: Lễ diễu hành của Quân đội Hoàng gia và thắp đèn hiệu

Trong ngày đầu tiên của chuỗi sự kiện là buổi diễu hành mừng sinh nhật Nữ hoàng, hay còn gọi là Lễ Diễu hành của Quân đội Hoàng gia (Trooping the Colour). Buổi diễu hành sẽ có sự tham gia của 1.400 binh sĩ, 200 con ngựa và 400 nhạc công, xuất phát từ điện Buckingham, đi dọc đại lộ The Mall đến tổng hành dinh Horse Guards của Hộ Kỵ binh Hoàng gia Anh.

Đại lễ Bạch Kim diễn ra khi nào?

Mặc dù lễ kỷ niệm đã được tổ chức vào ngày 6/2 vừa qua, phần hội và các sự kiện chính sẽ diễn ra vào đầu tháng 6. Cụ thể, sự kiện chính diễn ra trong 4 ngày 2/6 đến 5/6, được tổ chức cùng kỳ nghỉ Ngân hàng (Bank holiday) của Anh.

Lễ hội bao gồm các sự kiện công chúng, nhiều hoạt động cộng đồng, và các buổi kỷ niệm, vinh danh 70 năm trị vì của Nữ hoàng.

Một điều đặc biệt là ngày đầu tiên diễn ra lễ hội - 2/6 - cũng là ngày đăng quang chính thức của Nữ hoàng vào 69 năm trước, 2/6/1953.

Đại lễ Bạch Kim gồm những sự kiện gì?

Ngày 2/6: Lễ diễu hành của Quân đội Hoàng gia và thắp đèn hiệu

Trong ngày đầu tiên của chuỗi sự kiện là buổi diễu hành mừng sinh nhật Nữ hoàng, hay còn gọi là Lễ Diễu hành của Quân đội Hoàng gia (Trooping the Colour). Buổi diễu hành sẽ có sự tham gia của 1.400 binh sĩ, 200 con ngựa và 400 nhạc công, xuất phát từ điện Buckingham, đi dọc đại lộ The Mall đến tổng hành dinh Horse Guards của Hộ Kỵ binh Hoàng gia Anh.

Lễ Diễu hành của Quân đội Hoàng gia (Trooping the Colour)
Lễ Diễu hành của Quân đội Hoàng gia (Trooping the Colour). (Ảnh minh họa).

Công chúng sẽ có cơ hội tham gia sự kiện này. Buổi lễ cũng sẽ có sự góp mặt của các thành viên Hoàng gia tham gia diễu hành trên lưng ngựa và điều khiển xe ngựa. Kết thúc Trooping the Colour sẽ là màn bay diễu của Không quân Hoàng gia Anh.

Các thành viên Hoàng gia sẽ chứng kiến toàn bộ sự kiện từ ban công Điện Buckingham, với sự có mặt của tất cả các thành viên đang phục vụ nghĩa vụ công chúng.

Sinh nhật thực tế của Nữ hoàng là vào ngày 21/4. Tuy nhiên, nước Anh có truyền thống tổ chức sinh nhật quân vương vào một ngày riêng để thuận tiện cho dân chúng tham gia

Cũng trong tối ngày hôm đó theo giờ Anh, đèn hiệu chúc mừng Đại lễ sẽ được thắp sáng khắp Liên hiệp Anh, quần đảo Channel, đảo Man, các Lãnh thổ Hải ngoại Anh và toàn bộ Khối Thịnh vượng chung.

Ngày 3/6: Lễ Tạ ơn tại Nhà thờ chính tòa Thánh Paul tại London

Lễ Tạ ơn mừng sự trị vì của Nữ hoàng Anh sẽ diễn ra tại Nhà thờ chính tòa Thánh Paul tại thủ đô London. Tuy nhiên, sự kiện này sẽ không được mở cửa cho công chúng tham gia.

Ngày 4/6: Cuộc đua ngựa The Derby và Bữa tiệc Bạch Kim

Vào thứ bảy ngày 4/6, Nữ hoàng Elizabeth II cùng các thành viên Hoàng gia sẽ đến xem cuộc đua ngựa The Derby tại trường đua Epsom Downs ở hạt Surrey, đông nam nước Anh.

Nữ hoàng và một số thành viên Hoàng gia tại cuộc đua The Derby tại Đại lễ Kim Cương 10 năm trước
Nữ hoàng và một số thành viên Hoàng gia tại cuộc đua The Derby tại Đại lễ Kim Cương 10 năm trước

Được biết, Nữ hoàng là người rất yêu ngựa và đam mê bộ môn đua ngựa.

Vào tối hôm đó sẽ diễn ra sự kiện Bữa tiệc Bạch Kim tại cung điện. Trong sự kiện này, đài BBC sẽ có một loạt chương trình đặc biệt mừng 70 năm trị vì của Nữ hoàng, bao gồm nhiều bộ phim tài liệu, các chương trình âm nhạc với sự hội tụ của nhiều ngôi sao giải trí hàng đầu trên thế giới. Một sự kiện đặc biệt cũng sẽ được tổ chức tại Điện Buckingham.

Ngày 5/6: Bữa trưa Năm Thánh lớn và cuộc thi Platinum Jubilee Pageant

Chủ nhật 5/6 sẽ là ngày lễ lớn của nước Anh, với sự kiện Big Jubilee Lunch (Bữa trưa Năm Thánh lớn) được tổ chức trên toàn quốc. Cung điện cho biết hơn 1.400 người đã đăng ký tổ chức sự kiện này trong khu dân cư của họ, và hơn 200.000 sự kiện đơn lẻ khác sẽ diễn ra khắp đất nước.

Ngoài ra còn có cuộc thi Platinum Jubilee Pageant, với nhiều màn trình diễn khiêu vũ, diễu hành, âm nhạc đường phố, nghệ thuật sân khấu và hóa trang để tái hiện, tôn vinh thời gian trị vì của Nữ hoàng.

Các sự kiện sau lễ hội chính

Không khí lễ hội sẽ không chấm dứt sau những sự kiện tháng 6. Từ tháng 7, 3 cuộc triển lãm sẽ được tổ chức tại các tư trang Hoàng gia để trưng bày và kỷ niệm những khoảnh khắc quan trọng nhất trong quá trình trị vì của Nữ hoàng, từ thời điểm lên ngôi đến các Đại lễ trước.

Vào mùa hè, phòng khánh tiết của Điện Buckingham sẽ được mở để trưng bày những bức ảnh chân dung thời trẻ của Nữ hoàng được chụp bởi nhiếp ảnh gia nổi tiếng Dorothy Wilding. Món trang sức được bà sử dụng trong những bức ảnh đó cũng sẽ được trưng bày.

Chân dung thời trẻ của Nữ hoàng Elizabeth II
Chân dung thời trẻ của Nữ hoàng Elizabeth II

Tại cung điện Windsor, người dân sẽ được chiêm ngưỡng bộ lễ phục Nữ hoàng đã sử dụng trong buổi lễ đăng quang tại tu viện Westminster năm 1953. Trong khi đó, cung điện Holyroodhouse sẽ trưng bày trang phục của Nữ hoàng tại các Đại lễ Bạc, Đại lễ Vàng và Đại lễ Kim cương.

Đại lễ Bạch Kim của Nữ hoàng Anh có phải là độc nhất trong lịch sử?

Dù là vị quân vương Anh đầu tiên được tổ chức Đại lễ Bạch Kim trong lịch sử, đây không phải lễ mừng 70 năm trị vì độc nhất trên thế giới.

Trước Nữ hoàng Elizabeth II, Vương công Johann II của Liechtenstein và Vua Bhumibol Adulyadej của Thái Lan đều đã ở ngôi hơn 70 năm. Cá biệt, Louis XIV, "Vua Mặt Trời" của Pháp đã tại vị hơn 72 năm. Để phá kỷ lục của Louis XIV, Nữ hoàng sẽ cần thêm 2 năm nữa.

Cập nhật: 21/05/2022 Trí Thức Trẻ






Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2022

Về Ca Khúc ‘Thà Như Giọt Mưa’ Của Thi Sĩ Nguyễn Tất Nhiên Và Nhạc Sĩ Phạm Duy...

Về Ca Khúc ‘Thà Như Giọt Mưa’ Của Thi Sĩ Nguyễn Tất Nhiên Và Nhạc Sĩ Phạm Duy

Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá
Thà như giọt mưa khô trên tượng đá
Thà như mưa gió đến ôm tượng đá
Có còn hơn không, có còn hơn không
Có còn hơn không, có còn hơn không

Người từ trăm năm về qua sông rộng
Người từ trăm năm về qua sông rộng
Ta ngoắc mỏi tay, ta ngoắc mỏi tay
Chỉ thấy sông lồng lộng
Chỉ thấy sông chập chùng.

Người từ trăm năm về khơi tình động
Người từ trăm năm về khơi tình động
Ta chạy vòng vòng ta chạy mòn hơi
Nào có hay đời cạn nào có hay cạn đời.

Người từ trăm năm về như d*o nhọn
Người từ trăm năm về như d*o nhọn
Dao vết ngọt đâ*, ta ch*t trầm ngâm
Dòng m*u chưa kịp tràn
Dòng má* chưa kịp tràn.

Người từ trăm năm về phai tóc nhuộm
Người từ trăm năm về phai tóc nhuộm
Ta chạy mù đời ta chạy tàn hơi
Quỵ té trên đường rồi
Sợi tóc vương chân người.

Người từ trăm năm về ngang trường Luật
Người từ trăm năm về ngang trường Luật
Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
Thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi
Đau lòng ta muốn khóc
Đau lòng ta muốn khóc.

Thà như giọt mưa vỡ trên mặt em
Thà như giọt mưa khô trên mặt Duyên
Để ta nghe thoáng tiếng mưa vội đến

Những giọt run run ướt ngọn lông măng
Những giọt run run ướt ngọn lông măng
Khiến người trăm năm đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên.

Bài hát Thà Như Giọt Mưa được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ Người yêu là da.o nhọn (Khúc Buồn Tình) của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên. Bài thơ kể về chuyện tình của ông với một cô gái tên Duyên nhưng không thành.

Theo lời kể của nhà thơ Thái Thụy Vy: “Hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà anh Nguyễn Tất Nhiên ưa mặc cái manteau mua ở khu Dân sinh, mồ hôi nhễ nhại, ưa đạp xe đạp đi cua cô em Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên…”

Bài thơ đầu tiên ông làm cho Duyên đã có tên là “Khúc tình buồn”, sau đó nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bản nhạc “Thà như giọt mưa” hầu như ngày nào cũng được phát trên Đài phát thanh Sài Gòn, được giới học sinh, sinh viên mua, chép, chuyền tay nhau với tất cả sự thích thú vốn có của tuổi trẻ:

“Thà như giọt mưa
Vỡ trên mặt Duyên
Để ta nghe thoáng
Tiếng mưa vội đến

Những giọt run run
Ướt ngọn lông măng
Khiến người trăm năm
Đau khổ ăn năn

Khiến người tên Duyên
Đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên
Đau khổ muôn niên”.

Với cái tên Duyên được “rêu rao” trong ca từ một cách thê thiết như thế, cảm xúc của người nghe như được nhân lên gấp bội, cho nên bản nhạc cũng như tên tuổi của Nguyễn Tất Nhiên nhanh chóng được lan truyền rất rộng rãi.

Tiếp sau bản nhạc đó, và ngoài tập thơ “Thiên Tai”, Nguyễn Tất Nhiên còn tiếp tục làm nhiều thơ “ai oán” cho Bùi Thị Duyên. Như bài “Duyên của tình ta con gái Bắc” với những câu… ấn tượng:

………….

https://youtu.be/5AJIKX8Rz5Y

Thế nhưng, dường như trái tim của Bùi Thị Duyên vẫn không hề mềm sũng trước những bài thơ ướt át đó, thậm chí ngược lại đã có nhiều hờn trách từ phía gia đình bà dành cho nhà thơ tài hoa si tình.

Cả dư luận, trong khi thán phục, tìm đọc thơ của Nguyễn Tất Nhiên cũng bắt đầu tỏ ý phê phán ông “độc ác” với người-tình-không–trái- tim Bùi Thị Duyên. Để đến nỗi, khoảng năm 1973, Nguyễn Tất Nhiên thật sự mệt mỏi (chữ của ông hay dùng trong thơ) với cuộc tình tuyệt vọng của mình và làm bài thơ coi như là bài cuối cùng dành cho Duyên, trong đó ông “dũng cảm” tự nhận mình là một “tên quái đản”, là người “cầu danh vọng trên nước mắt người tình” như một tạ lỗi:

Năm năm trời… ta làm tên quái đản
Cầu danh trên nước mắt của người tình
Năm năm trời có nhục có vinh

Có chua, chát, ngọt, bùi, cay, đắng…
Có hai mái đầu chia nhau thù oán
Có thằng ta trút nạn xuống vai em!

Năm năm trời… có một tên Duyên
Ta ca tụng, rồi chính ta bôi lọ
Tình ta đẹp nhưng tính ta còn nít nhỏ

Nên lỗi lầm đã đục màu sông
Nếu em còn thương mến tuổi mười lăm
Xin nuốt hận mĩm môi cười xí xóa
Hồn ta đẹp nhưng đời ta thảm quá
……….
(Tạ lỗi cùng người)

https://dongnhacvang.com/ve-ca-khuc-tha-nhu-giot-mua-cua-thi-si-nguyen-tat-nhien-va-nhac-si-pham-duy/?fbclid=IwAR0OmMuGMvncPpkI3hASK1oEj6KXAKBp7Uyny2EaH9UCOw_C7QZeIcoX0uQ

Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn...

Vua Thành Thái
Chụp lại hình ảnh,Tranh trên trang Le Petit Journal vẽ Vua Thành Thái (mặc hoàng bào) và Toàn quyền Paul Doumer duyệt binh ở Hà Nội năm 1902.

Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ.

"Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này."

Ý kiến cũng nói rằng Trung Hoa, Thái Lan, Ấn Độ, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều quốc gia khác đều đã có những văn tự bằng tiếng La Tinh nhưng chưa bao giờ trở thành chữ quốc ngữ của họ.

Cũng theo nhà báo Nguyễn Giang, Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ xóa hàng rào cản tâm lý quá lạc hậu để giới sỹ phu yên tâm dùng chữ Quốc ngữ.

Và rằng chính nỗ lực tiên phong quảng bá quốc ngữ là của trí thức miền Nam và nhờ chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.

Nhưng tôi nghĩ cũng lạ tại sao ba nước Việt, Miên và Lào có chung hoàn cảnh, đều là thuộc địa của Pháp mà Miên và Lào lại không sử dụng La Tinh làm chữ quốc ngữ.

Ở đây cần xem cả đến công lao các vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, dù họ không thực sự nắm quyền thời Pháp thuộc.

Sắc lệnh của Vua Thành Thái

Theo sử gia Liam Kelley (2016) vào đầu thế kỷ XX cả người Pháp lẫn những nhà cách mạng đều không đủ quyền lực để chữ Quốc ngữ có thể lan ra sâu rộng xuống đến tận làng quê.

Qua nghiên cứu những nguồn tài liệu trong giai đoạn này, sử gia Liam Kelley kết luận chính nhà Nguyễn mới đi đầu trong công cuộc cải cách giáo dục.

Trong bài "Emperor Thành Thái's Educational Revolution", Liam Kelley (2016) đã công bố sắc lệnh của vua Thành Thái được lưu trữ trong Đại Nam Hội Điển Sử Lệ Tục Biên.

Bài viết được Nguyễn Hồng Phúc lược dịch có đoạn như sau:

"Hoàng đế Thành Thái đã tuyên bố trong một sắc lệnh rằng vào năm trị vì thứ 18 của ông (năm 1906), cha mẹ có thể quyết định việc cho con theo học một trường ấu học Hán văn hoặc một chương trình giảng dạy Nam âm (Quốc ngữ).

Với những người học theo chương trình Hán văn, sẽ có một cuốn sách giáo khoa được soạn ra nhằm giới thiệu những từ chữ Hán theo cấp độ khó dần. Nó cũng bao gồm một danh mục các Hán tự kèm theo phiên âm và định nghĩa bằng quốc ngữ được dùng trong tài liệu.

Trường thi
Chụp lại hình ảnh,Tranh vẽ trường thi Hán học ở Bắc Kỳ - hình của Chris Hellier/Corbis

…Trong khi, một cuốn sách giáo khoa bằng quốc ngữ khác sẽ được soạn ra để dạy những người theo chương trình học 'Nam âm' nhằm giới thiệu cho họ những thông tin cơ bản về xứ Đông Dương, thiết chế cai trị của nó, những phong tục tập quán...

Thêm vào đó, cũng có thêm một cuốn sách nữa được dịch từ Hán văn sang Nam âm nhằm cung cấp những loại thông tin mà học viên đang luyện thi khoa cử cần biết. Bản dịch này được soạn ra cho những người không muốn thi khoa cử, nhưng nó vẫn được đưa vào chương trình để cho họ biết thêm về những gì mà những người đang luyện thi khoa cử phải học…"

Sắc lệnh này vô cùng quan trọng vì khi nhà vua ra lệnh sử dụng chữ Quốc ngữ là nhà vua đã công khai ý định muốn thấy tầng lớp quan lại và sỹ phu phải thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa trong giáo dục, văn hóa, và nhất là tư tưởng.

Vừa thoát Trung vừa chống Pháp

Xin nhắc lại về cuộc đời vị vua trẻ tuổi.

Sinh năm 1879, vua Thành Thái lên ngôi năm 1889, khi mới 10 tuổi, và đến năm 1907 bị Pháp ép thoái vị.

Ngài bị quản thúc ở Vũng Tàu rồi đến năm 1916 bị đày sang đảo Réunion.

Vua là người cầu tiến, học tiếng Pháp, có hiểu biết khá toàn diện, cắt tóc ngắn, mặc Âu phục, phong cách của người theo tân học.

Vua thường xuyên tiếp xúc với sỹ phu và dân chúng, đồng thời trọng dụng nhiều nhân tài, thanh liêm, đức độ với hy vọng khôi phục và canh tân đất nước.

Sắc lệnh cho dạy Quốc ngữ chính là văn bản ủng hộ Phong Trào Duy Tân (1906) và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) thúc đẩy việc theo tân học và dùng chữ quốc ngữ.

Cắt tóc ngắn trở thành một dấu hiệu của người theo tân học.

Nhiều thanh niên lúc ấy sắm cho mình một cái kéo, đi tuyên truyền, vận động cắt tóc và vận động canh tân.

Đến khi Vua bị người Pháp ép thoái vị năm 1907 hình ảnh một vị vua yêu nước, chống Pháp, cắt tóc ngắn nhanh chóng lan tỏa xuống đến tầng lớp nông dân.

Tháng 3 năm 1908, bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam, nông dân đầu cắt tóc ngắn lũ lượt kéo đến các phủ huyện đòi giảm sưu giảm thuế.

Tất cả đều hớt tóc ngắn đi thành đoàn, phong trào mở rộng vào Nam đến Bình Định, Phú Yên và ra Bắc đến Nghệ An, Hà Tĩnh.

Pháp và triều Nguyễn gọi cuộc biến động này là Giặc cắt tóc, ở Bình Định gọi là Giặc đồng bào, sau được đổi lại là cuộc Dân biến Trung kỳ.

Đây là cuộc đấu tranh bất bạo động đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và đoàn biểu tình lấy biểu tượng là Vua Thành Thái một vị vua yêu nước, theo tân học nhưng chống Pháp.

Như vậy ngay từ đầu thế kỷ thứ 20, người Việt đã công khai thực hành phương pháp đấu tranh bất bạo động với biểu tượng vua Thành Thái, có tổ chức, có chiến thuật, có mục tiêu và có chiến lược một cách rất rõ ràng.

Cuộc đấu tranh bất bạo động bị Pháp đàn áp dã man. Nhiều người tổ chức và tham dự bị bắt, phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục bị dập tắt.

Các vị vua tiếp tục cải cách
Vua Khải Định năm 1922
Chụp lại hình ảnh,Hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn, Khải Định trong cuốn 'The Peoples of All Nations, Their Life Today and the Story of Their Past, tập I' do JA Hammerton biên soạn và xuất bản ở London năm 1922

Năm 1907 vua Duy Tân tiếp nối việc cải cách giáo dục bằng cách cho thành lập Bộ Học nhằm cai quản việc học hành và thi cử.

Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục là một nhà giáo dục cổ vũ thực học, thực tài, bỏ đi kiểu học từ chương, xa rời thực tế và chủ trương phát triển nền giáo dục "không học vì bằng cấp" mà phải học lấy thực tài để ra giúp dân, giúp nước.

Đáng tiếc ông lại hết sức bài bác chữ Quốc ngữ, nhưng không phải vì thế mà chữ Quốc ngữ bị đưa ra khỏi nền giáo dục.

Theo Trần Gia Phụng từ năm 1909, chương trình thi Hương bắt buộc thí sinh phải làm các đề thi luận văn bằng cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ.

Ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28/12/1918) vua Khải Định ra đạo dụ chính thức bãi bỏ khoa cử kiểu Hán học.

Năm 1919 là năm cuối mở khoa thi Hương ở Huế, từ đó chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của người Việt Nam.

Vai trò của các ông giáo trường làng

Bên cạnh các trường công do triều đình và người Pháp lập ra là một hệ thống trường tư do các thầy đồ sau chuyển thành thầy giáo làng giảng dạy.

Mỗi làng có khi lên đến vài ba trường, hoặc dạy ở nhà thầy, hoặc ở nhà người giàu có nuôi thầy cho con ăn học và cho con các nhà lân cận trong làng theo học.

Thầy đồ đa số là những người có học, có người đỗ tú tài, có người là quan hồi hưu mở lớp dạy học.

Thầy đồ hoàn toàn tự do không chịu sự giám sát của triều đình.

Mặc dầu được tự do mở lớp giảng dạy giới thầy đồ vẫn giữ lòng trung với các vua nhà Nguyễn và với sách Thánh hiền.

Các thầy đồ quyết liệt chống lại các chính sách giáo dục của nhà cầm quyền Pháp với quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang và là công cụ của các nhà truyền giáo.

Với họ, chữ Hán giáo dục về luân lí, về lịch sử, là chữ Thánh hiền còn Quốc ngữ chỉ để đọc báo, đọc Kinh Thánh, những sản phẩm của quân xâm lược, biết đọc chẳng ích lợi gì.

Nhưng khi sắc lệnh cho dạy Quốc ngữ của vua Thành Thái được ban ra thì chính các thầy đồ đã thay đổi đã tự học chữ Quốc ngữ để truyền dạy lại cho học sinh.

Ba lớp Đồng ấu học trước khi học sinh vào tiểu học đều do các thầy giáo trường làng dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ.

Vua Khải Định năm 1922

Chụp lại hình ảnh,Triều đình Huế đã có nhiều nỗ lực tự cải cách để hiện đại hóa quốc gia dù không có quyền lực chính trị

Nhờ thế chữ Quốc ngữ trở thành phổ thông đại chúng.

Những bộ sách giáo khoa như Sử ký địa dư giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư, Quốc văn giáo khoa thư, được học giả Trần Trọng Kim và các cộng sự biên soạn để dạy lớp ấu học trường làng.

Bộ sách giáo khoa 'Việt Nam Sử lược' được học giả Trần Trọng Kim soạn để dạy các lớp cao hơn và đã hoàn toàn chỉ cho những người đã biết Quốc ngữ.

Lên lớp nhì và lớp nhất ở trường chính phủ, mỗi tuần chỉ dạy chữ quốc ngữ một giờ rưỡi và bậc trung học chỉ dạy ba giờ.

Thời gian còn lại học sinh được dạy bằng tiếng Pháp và hầu hết do người Pháp dạy.

Từ đó ta thấy căn bản tiếng Việt, sử địa, luân lý, văn hóa về Việt Nam của học sinh hầu như đều thu nhận được từ các thầy giáo trường làng.

Vua Bảo Đại là người Tây Học

Tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị Paris về nước, vua Bảo Đại bắt tay ngay vào việc cải cách đất nước, mong từng bước khôi phục lại chủ quyền quốc gia.

Ngày 10/12 năm 1932, vua Bảo Đại cho công bố đạo dụ nước ta theo chế độ Quân chủ Lập hiến, nhà vua sẽ trực tiếp điều khiển nội các và cho cải cách hành chính, giáo dục và tư pháp.

Một nội các mới đã được thành lập gồm những người trẻ theo tân học như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Đệ…

Bảo Đại

Chụp lại hình ảnh,Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy khi học ở Pháp. Sau ông lên ngôi lấy hiệu là Bảo Đại và là Hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn.

Bộ Học được đổi tên thành Bộ Giáo dục và giao cho Phạm Quỳnh từng là chủ nhiệm báo Nam Phong một người luôn tha thiết với chữ Quốc ngữ điều hành.

Các cuộc cải cách của vua Bảo Đại đều bị người Pháp cản trở, riêng cải cách về giáo dục nhờ Phạm Quỳnh được người Pháp tin nên ít bị cản trở.

Chữ Quốc ngữ được tăng giờ dạy ở các trường công.

Nhờ thế sau khi Nhật đảo chánh Pháp, trao trả độc lập cho Việt Nam, chỉ trong vòng 5 tháng chính phủ Trần Trọng Kim đã thực hiện thành công cuộc cải cách lấy chữ Quốc ngữ làm ngôn ngữ chính trong giáo dục.

Bộ trưởng Giáo dục Hoàng Xuân Hãn có công lao lớn khi soạn cả sách toán và kỹ thuật bằng tiếng Việt Quốc ngữ để dạy ngay trong niên học 1945-46 tại miền Bắc và miền Trung.

Từ 1948 đến 1955, chính phủ Quốc gia Việt Nam tiếp tục lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy đến hết bậc trung học.

Bắt đầu từ chuyển biến tư tưởng thời Thành Thái

Học tiếng Pháp, theo tân học thoát khỏi tư tưởng Trung Hoa nên vua Thành Thái đã hiểu rõ những khái niệm về tự do, dân chủ, quốc gia, dân tộc, quân chủ, cộng hòa… hiểu từ sách Pháp không phải từ sách Trung Hoa.

Thay đổi quan trọng nhất của nhà vua là về mặt tư tưởng, về ý thức đất nước không còn của nhà vua nữa mà là của quốc gia của dân tộc.

Quốc gia là một thực thể độc lập có chủ quyền thoát khỏi tư tưởng thuộc địa hay chư hầu Trung Hoa.

Khái niệm 'quốc gia' bắt đầu được sử dụng đối nghịch với 'thuộc địa', 'chư hầu'.

Mặc dù không có quyền lực trong tay các vua triều Nguyễn đã thực hiện thành công cải cách từ giáo dục, văn hóa, đến chính trị đưa đất nước thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa.

Bài học các vua triều Nguyễn đã thực hiện là nếu muốn cải cách giáo dục phải bắt đầu bằng thay đổi tư tưởng cho chính mình.

Vì thế, theo tôi, nhu cầu thiết yếu của đất nước ngày nay không phải là cải cách tủn mủn về phát âm, ký tự Quốc ngữ mà phải vừa thoát khỏi một ý thức hệ duy nhất, vừa thoát Trung để khôi phục các nền tảng cơ bản cho Việt Nam.

  • Nguyễn Quang Duy / Gửi tới Diễn đàn BBC từ Melbourne, Úc

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của ông Nguyễn Quang Duy, Melbourne, Australia.

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/05/27/quoc-ngu-va-no-luc-thoat-han-cua-cac-vua-nha-nguyen-2/

Những phong tục tình dục kỳ lạ trên thế giới...

Nhiều phong tục tình dục kỳ lạ có từ lâu đời vẫn đang diễn ra ở nhiều dân tộc trên thế giới cho dù cánh cửa nối họ với thế giới hiện đại đã mở ra rất nhiều.

5 phong tục tình dục kỳ quái trên thế giới

Anh em lấy chung một vợ

Để tiết kiệm miệng ăn cũng như sống chung với tình trạng khan hiếm đất đai nông nghiệp, tài nguyên, người dân Nepal có một tập tục từ lâu đời là anh em ruột chia sẻ cùng nhau một vợ.

Theo quan niệm, phong tục này cũng giúp một người đàn ông không bị vợ bỏ mặc. Tất cả các nền văn hóa đã đưa ra một giá trị cụ thể cho tình dục. Không ai trong số họ xem nó như một hành động sinh học thuần túy, mà như một thực tế của cuộc sống, thậm chí một cái gì đó mang tính biểu tượng.

Phụ nữ Nepal thường phải lấy tất cả anh em trong một gia đình làm chồng.

Phụ nữ Nepal thường phải lấy tất cả anh em trong một gia đình làm chồng.

Truyền thống tình dục kỳ lạ của người Sambia

Ở Papua New Guinea, trẻ em phải rời khỏi mẹ của mình khi 7 tuổi. Từ đó trở đi, những đứa trẻ phải sống với những người đàn ông trưởng thành trong cộng đồng của chúng: mục tiêu là để bọn trẻ trở thành những người đàn ông. Nó là một truyền thống tình dục tìm cách tránh ô nhiễm. Phong tục này cũng dựa trên quan niệm rằng phụ nữ là những ‘sinh vật’ không trong sạch.

Đoạn đường dành cho trẻ em đến tuổi trưởng thành bao gồm một số nghi thức như cắt và đâm vào da. Mục tiêu là để loại bỏ bất kỳ dấu vết ‘ô nhiễm’ vẫn còn tiếp xúc với phụ nữ.

Thổ dân Mardudjara

Cộng đồng người Úc này có một nghi thức khởi đầu kỳ lạ dành cho nam giới. Điều đầu tiên họ làm là cắt bao quy đầu cho những người đàn ông bằng các phương pháp nguyên thủy. Cắt bao quy đầu này được cho là rất đau đớn. Các chàng trai trẻ thậm chí phải ăn bao quy đầu của chính họ.

Khi vết thương đã lành, họ cắt dương vật theo chiều dọc ở phía dưới. Máu chảy ra từ vết thương này được ném vào lửa. Người dân ở đây tin rằng người đàn ông mới được thanh tẩy theo nghi thức này. Đây là một trong nhiều truyền thống tình dục liên quan đến thanh lọc bằng nỗi đau.

Nghi thức Saut Dômeau

Ở Haiti, người dân nơi đây vẫn tin tưởng mạnh mẽ vào voodoo. Một trong những nghi thức truyền thống nhất diễn ra tại thác nước Saut Dơeau. Đây là những lễ kỷ niệm công khai, trong tầm nhìn đầy đủ của tất cả mọi người.

Hầu hết mọi người đều khỏa thân trong những lễ hội này. Vào lễ hội này, phụ nữ buộc phải theo chồng đến thác nước và các cặp vợ chồng có quan hệ tình dục trước mặt người khác và cực khoái cũng diễn ra.

Đàn ông nhà chồng thoải mái làm "bạn tình" với cô dâu

Tại Guyana, một quốc gia thuộc Nam Mỹ, các cô dâu mới về nhà chồng buộc phải đối mặt với một tập tục vô cùng kỳ quái. Đó là, ngoài chú rể ra, tất cả những người đàn ông trong gia đình anh ta đều có quyền làm tình với cô dâu.

Điều đó có nghĩa chỉ cần sau đêm động phòng thì cô dâu đã trở thành "quà chung" của tất cả các đàn ông trong gia đình người chồng mình.

Chuyện này chỉ kết thúc cho tới khi cô dâu mới này sinh đứa con đầu tiên. Sau khi sinh đứa con đầu tiên thì người vợ sẽ không phải quan hệ với bất kỳ người đàn ông nào trong gia đình nữa ngoài chồng mình. Bởi theo quan niệm của người Guyana thì việc có con đã khẳng định người vợ này thuộc sở hữu riêng của người chồng.

Theo Dân Việt

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/05/31/nhung-phong-tuc-tinh-duc-ky-la-tren-the-gioi/

FACEBOOK:

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=pfbid031UUZGGfVRBDcoPKYPriz5piHkzXbL9hksC7DvKUfcgzQ1vpr1tKtu1Q34g2zRub1l&id=100003760989015 





Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục...

Cho đến ngày nay, con người hiện đại vẫn đang kế thừa nhiều di sản quý giá của người Sumer cổ đại.

Từ xa xưa, sự xuất hiện và phát triển của con người thường gắn liền với những nền văn minh đặc trưng. Trong đó, điều kiện tự nhiên, đặc biệt là những con sông, là một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của xã hội con người. Do đó, nền văn minh đầu tiên của nhân loại - nền văn minh Sumer đã ra đời dựa trên điều kiện thuận lợi này.

Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục - Ảnh 1.

Nền văn minh Sumer được coi là cái nôi khởi thuỷ của nhân loại.

Sumer là một nền văn minh cổ đại xuất hiện khoảng 3.800 năm trước Công Nguyên, được thành lập ở vùng Lưỡng Hà thuộc vùng Lưỡi liềm màu mỡ nằm giữa sông Tigris và sông Euphrates, tức phía nam Iraq ngày nay.

Sự hình thành

Sumer được con người định cư lần đầu tiên từ năm 4500 đến 4000 năm trước Công nguyên, mặc dù có thể một số người định cư đã đến sớm hơn nhiều.

Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục - Ảnh 2.

Dân số sơ khai của Sumer được gọi là Ubaid

Văn hóa của họ bao gồm một nhóm các thành bang, bao gồm Eridu, Nippur, Lagash, Kish, Ur và thành phố đầu tiên - Uruk.

Vào thời kỳ đỉnh cao khoảng năm 2800 trước Công nguyên, thành phố có dân số từ 40.000 đến 80.000 và được coi là một trong những thành phố đông dân nhất thế giới thời bấy giờ. Kiến trúc của khu vực này cũng vô cùng đặc biệt khi mỗi thành phố, bang của Sumer đều được bao quanh bởi một bức tường được xây dựng bằng gạch bùn phẳng-lồi. Tuy nhiên, do không được trộn với vữa nên dễ bị xuống cấp theo thời gian.

Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục - Ảnh 3.

Thành phố, bang của người Sumer có kiến trúc độc đáo.

Những thành tựu quan trọng

Nhờ sự màu mỡ đặc biệt của hai vùng châu thổ do phù sa của chính hai dòng sông Tigris và Euphrates tạo ra, sự phát triển của nền văn minh này đáng kinh ngạc đến mức xuất hiện nhiều giả thuyết cho rằng người Sumer nhận sự giúp đỡ từ người ngoài hành tinh để có được sự phát triển đến như vậy.

javascript:if(typeof(admSspPageRg)!='undefined'){admSspPageRg.draw(3199);}else{parent.admSspPageRg.draw(3199);}

Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục - Ảnh 4.


Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục - Ảnh 4.

NNgười Sumer đạt được vô số thành tựu nổi bật.

Ban đầu, họ còn sống tập trung với nhau để chăn nuôi và làm ruộng theo chế độ công xã thị tộc. Sống ở những nơi tương đối khan hiếm tài nguyên thiên nhiên nhưng người Sumer không chỉ am hiểu địa chất học, biết cách lấy quặng và quy trình nấu chảy mà còn chế tạo ra hợp kim đầu tiên trong lịch sử loài người.

Thậm chí, họ còn chế tạo được đồ gốm, dệt vải, xây nhiều công trình thuỷ lợi và biết cách dùng trâu, bò để cày ruộng trước những nền văn minh cổ đại khác như Ai Cập, Hoàng Hà,...

Người Sumer cũng có những công trình to lớn như Kim tự tháp – Đài chiêm tinh Ziggurat, một công trình mang tính chất tôn giáo – thiên văn thời kỳ đó.

Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục - Ảnh 5.

  

Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục - Ảnh 5.

Bằng chứng về thiên văn học của người Sumer

Bên cạnh đó, những dấu hiệu về sự có mặt của chữ viết, thiên văn học hay toán học, hình học, y học cũng được các nhà khoa học tìm thấy trong những tàn tích cổ đại còn sót lại của người Sumer. Trong đó, có nhiều thành tựu thậm chí vẫn còn được người hiện đại sử dụng cho đến ngày nay như bảng cửu chương, cách tính diện tích, chu vi hay cách phẫu thuật mở hộp sọ,... 

Ngoài ra, người Sumer cũng phát triển nhiều vũ khí cũng như đồ vật hỗ trợ cho nhiều cuộc chiến tranh của họ như giáo, mũ trụ đồng và mang các tấm khiên bằng da hay liễu gai, xe ngựa và xe bò như những chiến xa chiến đấu cơ động.

Không phải Ai Cập, đây mới là nền văn minh đầu tiên của nhân loại với nhiều phát minh vượt bậc khiến người đời thán phục - Ảnh 6.

Chiến tranh giữa các thành bang của người Sumer đã giúp kỹ thuật và công nghệ chiến tranh được phát triển

Sự suy tàn

Năm 1940 trước Công Nguyên, Sumer bị người Elamite xâm chiếm và tiến hành cướp phá các thành bang. Sau đó, đến triều đại Hammurabi của Babylonia, người Babylonia thống nhất các vùng đất Lưỡng Hà, người Sumer diệt vong. Đến khoảng năm 1700 trước Công Nguyên, người Sumer đã dần bị đồng hóa với người Assyria và Babylonia.

Nguồn: History

Vấn đề khi nhấn? Chép và dán URL này vào trình duyệt:
https://anle20.wordpress.com/2022/06/01/khong-phai-ai-cap-day-moi-la-nen-van-minh-dau-tien-cua-nhan-loai-voi-nhieu-phat-minh-vuot-bac-khien-nguoi-doi-than-phuc/